Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

K h â m Đ ị n h V i ệ t S ử T h ô n g G i á m C ư ơ n g M ụ c

K h â m Đ ị n h V i ệ t S ử T h ô n g G i á m C ư ơ n g M ụ c

Chính Biên
Quyển thứ I
Từ Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 đến hết Đinh Mùi (1007), Lê Long Đĩnh năm Ứng Thiên thứ 14, gồm 40 năm (968-1007).
Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 (Tống, Thái tổ, năm Khai Bảo thứ 1).
Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế, quốc hiệu là Đại Cồ Việt (không rõ tháng nào).
Ngài, người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, cha là Công Trứ, mẹ là Đàm thị. Công Trứ, trước kia, làm nha tướng221 của Dương Diên Nghệ, quyền tạm chức Thứ sử Hoan Châu222 , sau theo Ngô Vương, vẫn làm chức cũ. Khi Công Trứ mất rồi, ngài hãy còn nhỏ, Đàm thị đưa về ở động núi. Chăn trâu ngoài nội, chơi với đám trẻ con, ngài được chúng chịu phục cả. Hễ ngài đi đâu, chúng cứ phải tréo tay làm kiệu rước đi, giống như kiệu thật; lại lấy bông lau làm cờ rước kèm hai bên làm như nghi vệ thiên tử. Kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác: đi đến đâu, ở đấy cũng phải phục tùng. Đám thì kiếm củi, thổi cơm; đám thì nộp lương, giúp việc. Mẹ thấy thế, mừng lắm, giết lợn nhà để khao chúng. Khi đã hơi lớn, ngài sai bảo được những người ở ấp lân cận. Phụ lão trong các sách223 đều bảo nhau rằng: "Chú bé này có độ lượng khác thường, chắc rồi làm nên sự nghiệp kia khác". Họ liền đem con em theo ngài, lập ngài làm trùm, đóng ở sách224 Đào Úc, ngày ngày đi đánh những sách225 khác chưa chịu phục.
Bấy giờ có Thúc Dự226 giữ sách Bông, chống nhau với ngài. Ngài vì quân ít, không địch nổi, thua chạy, qua cầu Đàm Gia. Cầu gẫy, ngài sa lầy. Dự đuổi theo, toan đâm. Bỗng thấy rồng vàng che phủ hai bên, Dự sợ, rút lui. Ngài thu lượm quân gia còn sót, lại đánh: Dự phải hàng.
Hồi ấy phương Nam, phương Bắc đương rối ren. Sứ quân các bộ thay nhau nổi lên, mỗi người xưng hùng một nơi, chia cắt đất nước. Nghe biết Trần Minh Công là người có đức, ngài đến nương tựa, Minh Công sai giữ binh quyền. Khi Minh Công mất, ngài sẵn có quân ấy, giữ luôn Hoa Lư, chiêu mộ thu dùng hào kiệt, thủ hiểm một nơi. Hai vua Nam Tấn và Thiên Sách nhà Ngô đánh mãi không được. Kịp khi nhà Ngô mất, ngài hàng phục được Phạm Phòng Át, phá được Đỗ Động, hạ thành, đánh ấp, đến đâu thắng đấy, được tôn gọi là Vạn Thắng Vương. Dẹp tan mười hai Sứ quân, tự lập làm hoàng đế.
Lời chua - Đại Hoàng: Tên châu, bây giờ là huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình.
Đàm Gia: Tên thôn, bây giờ là xã Điềm Xá, huyện Gia Viễn.
Động Hoa Lư: Xem Nam Tấn Ngô Xương Văn năm thứ 1 (Tb.V, 24-25).
Mười hai Sứ quân: Xem ngang với Tống, năm Kiến Đức thứ 4 (Tb.V, 27-28).
Đỗ Động Giang: Xem ngang với Tống, năm Kiến Đức thứ 4 (Tb.V, 29).
Đóng đô ở Hoa Lư.
Nhà vua muốn đóng kinh đô ở thôn Đàm, nhưng vì ở đấy, đất đã chật hẹp, lại không có thế hiểm trở, nên mới dựng kinh đô mới ở Hoa Lư: đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt nghi lễ trong triều.
Bầy tôi dâng tôn hiệu227 .
Tôn hiệu nhà vua là Đại Thắng Minh hoàng đế.
Đặt vạc, nuôi cọp để ra oai với người có tội.
Nhà vua muốn dùng oai lực để chế trị thiên hạ, mới đặt vạc lớn ở sân, nuôi hổ dữ ở cũi, hạ lệnh rằng: "Hễ kẻ nào vi phạm thì bắt bỏ vào nấu trong vạc, hay cho hổ ăn thịt". Ai nấy sợ hãi, không dám phạm pháp.
Lời phê - Đạo trời ưa kẻ khiêm nhường, đạo người răn người tự mãn. Tiên Hoàng nhà Đinh là người vô học, không có mưu mô gì, chỉ quan dữ tợn, kiêu căng, đến nỗi cuối cùng cả hai cha con đều bất đắc kỳ tử, mới được hai đời đã mất! Nhân đức và tàn bạo thật khác nhau hẳn: đáng làm gương chung. Đinh kêu là Vạn Thắng, Tần mong được vạn thế, xe trước xe sau cùng đi một vết, thương thay! Kỷ Tị, năm thứ 2 (969). (Tống, năm Khai Bảo thứ 2).
Tháng 5, mùa hạ. Lập con là Liễn làm Nam Việt vương.
Canh Ngọ, năm Thái Bình thứ 1 (970). (Tống, năm Khai Bảo thứ 3).
Tháng giêng, mùa xuân. Đặt niên hiệu228 sai sứ sang nhà Tống.
Bấy giờ chúa Nam Hán là Sưởng chống lại nhà Tống. Tống sai đại tướng Phan Mỹ đi đánh. Nhà vua nghe tin, sợ, mới sai sứ sang giao hảo với Tống.
Lập năm Hoàng hậu.
Năm Hoàng hậu: 1) Đan Gia; 2) Trinh Minh; 3) Kiểu Quốc; 4) Cồ Quốc; 5) Ca Ông.
Lời bàn của Lê Văn Hưu - Đinh Tiên Hoàng đã không kê cứu cổ học, bầy tôi lại không ai biết sửa chữa cho, đến nỗi say đắm tình riêng, lập nên một loạt cả năm Hoàng hậu! Sau này, Lê, Lý, nhiều vua cũng bắt chước, làm theo, là do Đinh Tiên Hoàng đầu têu ra đó. Tân Mùi, năm thứ 2 (971). (Tống, năm Khai Bảo thứ 4).
Đặt phẩm cấp cho quan văn, quan võ: Nguyễn Bặc làm Định quốc công; Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư229 ; Lê Hoàn làm Thập Đạo230 tướng quân.
Lời chua - Đô hộ phủ: Theo Địa lý chí trong Đường thư , nhà Đường đặt Đô hộ phủ, trị sở ở Long Biên; nhà Đinh vẫn để tên cũ ấy đặt quan cai trị.
Sĩ sư: Tên chức quan. Có lẽ phỏng theo tên chức quan coi việc hình phạt của đời Đường, Ngu xưa.
Nguyễn Bặc, Lưu Cơ: Đều là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng.
Lê Hoàn: Người xã Bảo Thái huyện Thanh Liêm231 .
Ban hiệu Khuông Việt thái sư cho Tăng thống Ngô Chân Lưu.
Nhà vua tôn sùng đạo Phật, mới đặt phẩm cấp cho tăng nhân và đạo sĩ: ban hiệu Thái sư232 cho Chân Lưu, lại cho Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ233 , Đặng Huyền Quang làm Sùng chân uy nghi234 .
Nhâm Thân, năm thứ 3 (972). (Tống, năm Khai Bảo thứ 5).
Sai Nam Việt vương Liễn sang nhà Tống.
Đem biếu sản vật địa phương.
Quý Dậu, năm thứ 4, (973). (Tống, năm Khai Bảo thứ 6).
Sứ nhà Tống sang.
Bấy giờ Nam Việt vương Liễn đi sứ về, nhà Tống sai sứ sang phong nhà vua làm Giao Chỉ quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ. Bài chế văn đại lược nói: "Họ Đinh vốn dòng họ đàn anh, giữ được đất xa, có lòng hâm mộ phong thói văn minh, thường tỏ ý muốn phụ thuộc với Trung Quốc. Nay gặp buổi chín châu235 đã về một mối, Ngũ Lĩnh236 đã phẳng lặng thanh bình, họ Đinh sai sứ trèo non vượt bể tới nơi, dâng đồ tiến cống. Đáng khen con237 biết giữ lễ phiên thần, nên ban cho cha238 theo lối cắt đất phong tước. Theo cấp bậc, cho được cầm binh quyền, tự chủ trong việc đánh dẹp ở phương xa239 . Còn về công phú thì sắp xếp vào ngạch "tỉnh phú"240 . Thế là để khen thưởng người già cả mà có đức hạnh, chứ há có hạn chế trong điển chương pháp độ thường đâu?".
Giáp Tuất, năm thứ 5 (974). (Tống, năm Khai Bảo thứ 7).
Tháng 2, mùa xuân. Tổ chức quân đội trong mười đạo.
Chia trong nước làm mười đạo. Tổ chức quân đội: mỗi đạo mười quân, mỗi quân mười lữ, mỗi lữ mười tốt, mỗi tốt mười ngũ, mỗi ngũ mười người, đều đội mũ "tứ phương bình đính".
Lời chua - Mũ "Bình đính": Làm bằng da, bốn bề khâu giáp lại với nha: trên hẹp, dưới rộng, chóp phẳng.
Mười đạo: Chia đặt thế nào không rõ.
Ất Hợi, năm thứ 6 (975). (Tống, năm Khai Bảo thứ 8).
Mùa xuân. Quy định mũ áo quan văn, quan võ.
Mùa thu. Sứ Tống lại sang.
Bấy giờ nhà vua sai Trịnh Tú đem sản vật địa phương sang biếu nhà Tống. Tống sai hồng lô tự khanh Cao Bảo Tự cùng với Vương Ngạn Phù đem chế văn sang gia phong cho Nam Việt vương Liễn làm Khai phủ nghi đồng tam ti Kiểm hiệu Thái sư, Giao Chỉ quận vương. Từ đây, hễ sai sứ sang Tống đều cử Đinh Liễn đứng đầu.
Lời phê241 - Sự thực bấy giờ thế nào thật không rõ được, hoặc giả có điều gì giấu giếm mà như thế chăng? Lời cẩn án - Sử Cương mục tục biên (Trung Quốc) chép rằng: Bộ Lĩnh đề cử con là Liễm làm Tiết độ sứ, rồi lại nhường ngôi cho con. Khi Nam Hán mất, Đinh Liễn vào cống. Sách Đông Đô sự lược242 chép: Đinh Liễn nối ngôi cha. Lúc nhà Tống bình được đất Lĩnh Nam, Liễn sai sứ xin nội phụ. Có lẽ bấy giờ Tiên Hoàng cầm quyền trị vì trong nước, còn việc bang giao trọng đại thì giao cả cho Đinh Liễn, nhà Tống phong vương cho Đinh Liễn, chừng có ý để Liễn nối ngôi cha; về phần Tiên Hoàng, vì đã xưng Hoàng đế ở trong nước rồi, nên cũng không thắc mắc về chuyện đó chăng? Lời chua - Trịnh Tú: Người châu Đại Hoàng.
Bính Tí, năm thứ 7 (976). (Tống, Thái Tông năm Thái Bình hưng quốc thứ 1).
Mùa xuân. Sai sứ sang nhà Tống.
Sai Trần Nguyên Thái đem biếu sản vật địa phương.
Đinh Sửu, năm thứ 8 (977). (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 2).
Sai sứ sang Tống.
Mừng việc Tống Thái Tông (976-997) lên ngôi.
Mậu Dần, năm thứ 9 (978). (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 3).
Tháng giêng, mùa xuân. Động đất.
Lập con nhỏ là Hạng Lang làm Thái tử, phong con thứ là Toàn làm Vệ vương.
Tháng hai. Mưa đá.
Lời chua - Mưa đá: Mưa thành băng; bởi vì khí dương bị khí âm lấn lướt, không dung nạp được nhau, nên tan ra thành mưa đá.
Tháng 6, mùa hạ. Hạn hán.
Lời bàn của Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền: Về việc Tiên Hoàng lập Hạng Lang, trước đó thì có động đất, sau đó thì có mưa đá, có hạn hán. Trời kia răn bảo trờ trờ ra đấy; thế mà cứ coi làm thường, không sớm tỉnh ngộ! Vậy, muốn không mất, phỏng được chăng? Kỷ Mão, năm thứ 10 (979). (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 4).
Mùa xuân. Nam Việt vương Liễn giết Thái tử Hạng Lang.
Liễn là con trưởng, khó nhọc mà có công to; khi nhà vua đã được nước, Liễn được phong là Nam Việt vương lại từng nhận tước phong của Tống. Khi có Hạng Lang, nhà vua tư vị cưng chiều, lập làm thái tử. Vì thế, Liễn bất bình, sai người ngầm giết Hạng Lang.
Tháng 10 mùa đông. Chi hậu nội nhân243 Đỗ Thích giết nhà vua và Nam Việt vương Liễn. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc bắt được Đỗ Thích giết đi, rước Vệ vương Toàn lên ngôi.
Trước kia, Đỗ Thích làm chức lại244 ở Đồng Quan, đêm nằm ở trên cầu, bỗng thấy sao sa vào miệng, tự phụ là điềm lạ, manh tâm làm điều vượt phận mình. Đến đây, nhân dịp nhà vua đêm ăn yến, say rượu, nằm ở trong sân cung cấm, bèn giết nhà vua luôn với Nam Việt vương Liễn. Bấy giờ sự lùng bắt giặc gắt gao quá. Đỗ Thích nằm núp ở lòng máng trong cung, đã hơn ba ngày, khát lắm, gặp trời mưa, thò tay ra hứng nước uống. Cung nữ trông thấy, chạy báo Nguyễn Bặc. Nguyễn Bặc bắt lấy Thích, chém chết. Rồi cùng bọn Đinh Điền, Lê Hoàn rước Vệ vương Toàn lên ngôi; truy tôn nhà vua là Tiên Hoàng đế.
Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm, thọ 56 tuổi.
Lời chua - Đỗ Thích: Người Đại Đê thuộc Thiên Bản245 .
Đồng (mộc bên chữ "đồng" là cùng) Quan: Sử của Ngô [Thì] Sĩ chép là Đồng (chấm thủy bên chữ "đồng" là trẻ con) Quan. Bây giờ không biết ở đâu.
Táng ở sơn lăng Hoa Lư.
Lời cẩn án - Về việc an táng Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành . Sử cũ đều chép táng ở sơn lăng Trường Yên. Nay theo Ninh Bình sách4 lăng Tiên Hoàng ở núi Mã Yên thuộc xã Trường Yên Thượng, lăng Đại Hành ở núi Phẩm Sơn thuộc xã Trường Yên Hạ. Thế thì hai xã Trường Yên tức là đất Hoa Lư, cố đô nhà Đinh, nhà Lê; đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 1 (1010), nhà Lý mới đổi Hoa Lư làm phủ Trường Yên. Vậy tên gọi "Trường Yên" ở thời Đinh, Lê chưa có . Sử cũ chép thế thì lầm, nay xin đính chính. Tôn mẹ là Dương thị làm Hoàng thái hậu.
Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tự xưng là Phó vương. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp247 Đinh Điền và Phạm Hạp dấy quân đánh Lê Hoàn, không được, đều tử tiết.
Nhà vua nối ngôi, mới lên sáu tuổi. Bọn Nguyễn Bặc đều là đại thần phụ chính; còn Lê Hoàn trong tay giữ cả binh quyền, tự do ra vào nơi cung cấm. Thái hậu phải lòng Hoàn, rồi cùng nhau tư thông, cho Hoàn quyền tạm làm công việc thay vua như Chu Công248 khi trước. Lê Hoàn cậy có Thái hậu cưng yêu, không kiêng sợ chi cả. Bọn Nguyễn Bặc bàn với nhau: "Lê Hoàn sẽ bất lợi cho "nhụ tử"249 ; chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không tính tước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế250 ở suối vàng nữa?". Họ liền cùng nhau khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến, định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Thái hậu nghe tin, bảo Lê Hoàn: "Bọn Bặc nổi loạn, quan gia251 hãy còn thơ ấu, cáng đáng sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi". Lê Hoàn thưa: "Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết cũng xin gánh lấy trách nhiệm". Hoàn liền sắp xếp quân đội, đánh nhau với Nguyễn Bặc, Đinh Điền ở Ái Châu. Bặc, Điền thua rồi, lại đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt cả thuyền chiến: Đinh Điền bị chết tại trận; Hoàn bắt được Nguyễn Bặc, đưa về kinh đô. Trước mặt Nguyễn Bặc, Hoàn kể tội: "Đấng Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm giận, ngươi lại nhân lúc tang tóc rối ren, đứng đầu làm giặc! Đạo tôi con đâu có như thế?". Rồi Hoàn giết hại Bặc. Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất tinh thần, chạy lên Bắc Giang; Lê Hoàn đem quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết.
Lời cẩn án - Sử cũ chép Nguyễn Bặc, Đinh Điền cùng nhau dấy quân, đinh kéo đến thẳng kinh đô để giết Lê Hoàn, nhưng địa điểm dấy quân ở đâu thì bỏ qua không chép. Nay xét: Lê Hoàn với Bặc, Điền đánh nhau ở Tây Đô, Tây Đô tức là Ái Châu2. Hoặc giả khi đã bàn định về việc giết Hoàn, họ liền đến Ái Châu khởi binh, mà Sử cũ bỏ sót chăng? Vậy hãy để lại, đợi khảo sau . Lời chua - Ngoại giáp: Tên chức quan.
Đinh Điền: Người động Hoa Lư253 , châu Đại Hoàng.
Phạm Hạp: Người Nam Sách254 : bây giờ là phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Bắc Giang255 : Tức Kinh Bắc. Xem Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 10 (Chb.XXI, 28-29).
Ngô Nhật Khánh đem người Chiêm Thành vào cướp.
Nhật Khánh là dòng dõi Tiên chúa Ngô Quyền, trước kia xưng là An Vương, cùng với mười hai Sứ quân giữ đất, tranh hùng. Đinh Tiên Hàng đánh dẹp được Nhật Khánh rồi, lập mẹ y làm hoàng hậu, lấy em gái y cho Nam Việt vương Liễn, lại gả công chúa cho y. Nhưng Nhật Khánh vẫn không hết oán giận, bèn đem vợ trốn đi. Khi đến cửa biển Nam Giới, Khánh rút dao đeo bên mình ra rạch vào mặt vợ mà kể: "Cha mày lừa gạt hiếp tróc mẹ con ta. Ta đây há vì cớ mày mà quên được tội ác cha mày sao? Thôi, mày trở về, một mình ta đi, ta cầu người nào cứu được ta đây!". Đoạn, Nhật Khánh chạy sang Chiêm Thành. Đến đây, nghe tin Tiên Hoàng mất rồi, Nhật Khánh dẫn người Chiêm đi đường biển vào cướp. Khi qua cửa Đại Nha và cửa Tiểu Khang, gặp cơn phong ba, thuyền chìm đắm mất cả. Nhật Khánh chết đuối. Chúa Chàm (Chiêm Thành) may được thoát nạn, bèn thu thập những quân còn lại, rút về.
Lời chua - Nhật Khánh: Người xã Đường Lâm256 ; bây giờ là xã Cam Lâm thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.
Chiêm Thành: Tức Lâm Ấp. Xem thuộc Tấn, Mục đế, năm Vĩnh Hòa thứ 9 (Tb.III, 20-21).
Cửa biển Nam Giới: Ở chổ giáp giới hai huyện Thiên Lộc257 và Thạch Hà.
Cửa Đại Nha: ( á bên chữ điểu ): Tức cửa Đại Nha ( nha bên chữ điểu ). Xem Lý Hậu đế năm thứ 1 (Tb.IV, 13).
Cửa Tiểu Khang: Ở địa phận huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; bây giờ là cửa Kiền (cũng gọi cửa Cờn hoặc cửa Quèn).
Canh Thìn năm thứ 11 (980). (Đế Toàn, vẫn theo niên hiệu Thái Bình. Từ tháng 7 năm Thái Bình thứ 11 trở về sau là triều Lê, Đại Hành hoàng đế, năm Thiên Phúc thứ 1. - Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 5).
Tháng 7, mùa thu. Dương thị sai Lê Hoàn đem quân ra chống quân Tống. Lê Hoàn liền tự xưng là Hoàng đế, truất bỏ Đế Toàn lại làm Vệ vương. Nhà Đinh (968-980) mất.
Trước đây, viên quan giữ Ung Châu nhà Tống là Hầu Nhân Bảo dâng thư nói bên Giao Châu đương có nội loạn, ta có thể đem một ít quân sang cũng đủ lấy được, xin cho mình về triều đình để trình bày về tình hình này. Vua Tống mừng lắm, toan cho chạy ngựa trạm triệu Nhân Bảo về ngay. Lư Đa Tốn nói: "Nước kia bên trong rối loạn, đó là cơ trời làm mất. Ta nên xuất kỳ bất ý mà đánh úp. Thế gọi là "tiếng sét đánh mau, che tai không kịp". Nếu vời Nhân Bảo về trước, mưu sẽ tất lộ; kẻ kia biết trước, chuẩn bị đề phòng, thì ta chưa dễ đã lấy được. Chi bằng mật sai Nhân Bảo lo liệu việc ấy, rồi sẽ xuất quân đánh tràn sang, thế tất ăn chắc mười mươi". Vua Tống cho là pải, liền cho Nhân Bảo làm chức Giao Châu thủy lục chuyển vận sứ, bọn Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực đều cho làm chức Binh mã đô bộ thự, hẹn ngày cùng kéo quân sang xâm.
Viên quan giữ Lạng Châu đem sự đó tâu lên, Dương hậu sai Lê Hoàn lựa tuyển dũng sĩ để kháng chiến: cho Phạm Cự Lạng258 làm Đại tướng quân, bày mưu kế đem quân ra đánh. Cự Lạng và các tướng đều mặc quân phục, vào thẳng điện đình, bảo mọi người rằng: "Nay, thưởng người có công mà phạt kẻ không vâng mạng, đó là phép hành binh. Bây giờ chúa thượng hãy còn thơ ấu, bọn ta dẫu hết sức liều chết, may mà có chút công lao, thì ta biết cho? Chi bằng trước hãy tôn ngay Thập đạo tướng quân lên làm thiên tử, sau sẽ ra quân?". Quân sĩ đều tung hô "vạn tuế". Dương hậu thấy ai cũng một lòng hả hê mến phục, liền sai lấy áo long cổn khoác lên mình Lê Hoàn rồi chính Dương hậu khuyên mời Lê Hoàn làm vua. Hoàn bấy giờ mới lên ngôi, đổi niên hiệu, giáng chức Đế Toàn xuống làm Vệ vương như cũ.
Lời phê259 - Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội3 vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống4 thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu? Lời cẩn án - Sử Cương mục (Trung Quốc) nêu lệ chép năm tháng: Khi thiên tử nối đời nhau, thì cứ ở dưới dòng5 viết tên thụy và tên hiệu bằng chữ đỏ. Chỗ "lời chua" trong Sử ấy nói rằng: "Về sau, nếu vua nào bị phế, không có thụy hiệu, thì chỉ chép là "Đế mỗ", chứ không dùng đến cái tước do người sau đã biếm truất mà đặt cho. Thí dụ như Hải Tây Công nhà Tấn bị Hoàn Ôn6 phế truất Cương mục chép chữ lớn là "Đế Dịch".
Phép chép thẳng tên húy như thế là vì thấy không có tên thụy. Đó là lệ ngoại của Cương mục. Thế mà Sử cũ (của ta), đối với Đinh Toàn chép là "Phế đế", nay xin sửa lại, chép là Đế Toàn, cho hợp ý nghĩa và thể lệ trong sử Cương mục trên . Lời chua - Ung Châu: Theo Thanh Nhất thống chí , Ung Châu thuộc về Quảng Tây thống bộ.
Hầu Nhân Bảo: Sử Cương mục tục biên (Trung Quốc) chép Nhân Bảo là chồng em gái Triệu Phổ. Lư Đa Tốn có hiềm khích với Triệu Phổ, bèn bẩy Nhân Bảo ra làm Tri châu Ung Châu, chín năm không được đổi đi nơi khác. Nhân Bảo sợ rằng nay lần mai lữa sẽ chết già ở đất Lĩnh Ngoại, bấy giờ mới dâng thư nói việc Giao Châu, xin về tận triều đình tỏ bày sự trạng.
Giao Châu: Xem thuộc Đường, Cao Tông, năm Điều Lộ thứ 1 (Tb.IV, 19).
Lạng Châu: Nhà Lê, nhà Lý đặt làm lộ; nhà Trần gọi là Lạng Giang lộ; bây giờ là tỉnh Lạng Sơn.
Phạm Cự Lạng: Em Phạm Hạp.
Đây trở lên, nhà Đinh từ Tiên Hoàng, Mậu Thìn, năm thứ một (đến năm thứ ba mới đặt niên hiệu là Thái Bình) đến Đế Toàn, Canh Thìn, vẫn gọi là niên hiệu Thái Bình năm thứ 11, cộng hai đời vua, 13 năm (968-980).
Truy tôn cha là Mịch là Trưởng Hưng vương, mẹ là Đặng thị làm Hoàng thái hậu.
Trước kia, mẹ ngài là Đặng thị đang có thai, chiêm bao thấy bụng nở ra hoa sen, rồi kết thành nhân sen ngay. Đặng thị đem chia cho mọi người, riêng mình lại không ăn. Lúc tỉnh dậy, lấy làm lạ lắm. Kịp khi sinh con, thấy con mặt mũi hình dáng khác thường, Đặng thị nói với người ta rằng: "Thằng cháu này mai sau chắc sẽ làm nên sang cả, chỉ hiềm tôi không kịp hưởng lộc thôi!". Được vài năm, mẹ mất, rồi cha cũng chết. Viên quan sát họ Lê (không rõ tên) ở Ái Châu thấy ngài, cho là khác thường, nuôi làm con. Gặp tiết trời đông rét mướt, ngài nằm phục như hình cối úp: đang đêm, sáng rực cả nhà, có con rồng vàng ấp ở trên. Viên quan sát họ Lê, tỏ ra lấy làm lạ. Lớn lên, ngài giúp việc Nam Việt vương Liễn, càng tỏ ra lỗi lạc, có chí lớn. Tiên Hoàng khen là người có mưu trí và sức mạnh, giao cho cai quản hai nghìn quân, dần thăng đến chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ. Đến bấy giờ cướp ngôi nhà Đinh, truy tôn cha mẹ.
Lời cẩn án - Chu Vũ vương dấy nghiệp vương thì truy tôn Thái vương, Vương Quý và Văn vương làm bậc vương. Tống Thái Tổ xưng hoàng đế thì tôn Hi Tổ và Dực Tổ làm bậc đế. Lê Đại Hành đã xưng đế, thế mà chỉ tôn cha làm vương, còn từ ông tổ giở lên đều không được dự: thực trái thờng quá lắm! Huống chi tôn cha làm vương mà mẹ lại làm Hoàng thái hậu: đảo ngược đến như thế! Về sau, Lý Thái Tổ tôn cha làm Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức thái hậu, cũng là do Lê Đại Hành nêu ra trước. Lời chua - Ái Châu: Tức Thanh Hóa. Xem Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 10 (Chb.XXI, 20-21).
Tháng 10, mùa đông, sai sứ sang nhà Tống.
Bấy giờ vua Tống hạ chiếu xuất quân sai Lư Đa Tốn đưa thư sang ta khuyên dụ, đại lược nói: "Rừng rực xứ nóng, khói tỏa, mù hun, ta hóa ra áng mây của vua Nghiêu, tưới cơn mưa ngọt. Sùng sục chướng khí, mây đốt, đá nung, ta gảy khúc đàn của vua Thuấn, nổi cơn gió mát"260 . Lại nói: "Hiện nay ta đã sửa sang binh xa và bộ tốt, hiệu lệnh chiêng trống rất nghiêm minh; nếu vâng theo giáo hóa thì được tha; nếu chống lại mệnh lệnh thì sẽ bị trị tội".
Nhà vua tiếp được thư ấy, sai nha hiệu Giang Cự Vọng và Vương Thiệu Tộ đem thư sang nhà Tống, nói trá là tờ biểu của Đinh Toàn cầu nối ngôi cha, xin ban cho mệnh lệnh chính thức. Làm vậy, cốt để hòa hoãn tình thế.
Bấy giờ Tống đã dấy quân, nên không ưng thuận. Tống sai Trương Tôn Quyền đem thư sang dụ rằng: "Họ Đinh truyền nối đã được ba đời, trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống súy, khanh261 thì làm phó. Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây. Đợi khi vào chầu, tất sẽ được ban điển lể ưu hậu. Khanh262 sẽ được trao cờ tiết và cây việt. Có hai đường đấy, khanh nên xét kỹ mà chọn lấy một". Nhà vua đều ỉm đi, không trả lời.
Tân Tị (981). Lê Đại Hành hoàng đế năm Thiên Phúc thứ 2 (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 6).
Tháng 3, mùa xuân. Quân Tống sang xâm lược. Nhà vua tự làm tướng, đánh bại quân địch.
Bấy giờ quân Tống chia đường sang xâm lấn: Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng kéo đến Lạng Sơn; Trần Khâm Tộ kéo đến Tây Kết, Lưu Trừng kéo đến sông Bạch Đằng. Nhà vua tự làm tướng, ra kháng chiến: sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch. Quan quân Tống đông lắm. Quan quân ta đánh bất lợi: hai trăm thuyền chiến đều bị địch lấy mất cả. Hầu Nhân Bảo đem tiền quân tiến lên trước. Tôn Toàn Hưng đóng quân lại, không đi; Nhân Bảo thường phải thúc giục. Khi quân Tống kéo đến sông Chi Lăng, nhà vua sai người trá hàng, dụ bắt được Nhân Bảo, đem chém. Bọn Lưu Trừng rút lui. Khâm Tộ nghe tin, trút quân quay về. Nhà vua lại đem các tướng truy kích: quân Khâm Tộ thua to, chết mất quá nửa. Bên ta bắt được bộ tướng của địch là bọn Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân, điệu về kinh đô. Chuyển vận sứ nhà Tống là Hứa Trọng Tuyên đem tình hình thua trận tâu bày về triều, vua Tống xuống chiếu rút quân về.
Lời chua - Lạng Sơn: Xưa là bộ Lục Hải; đời Hán thuộc về Giao Chỉ; đời Đường thuộc về Giao Châu; Đinh chia làm Lạng Sơn đạo, lại gọi là Lạng Châu; Lê, Lý đặt làm lộ; Trần gọi là Lạng Giang lộ; Lê gọi là Lạng Sơn thừa tuyên. Bây giờ là tỉnh Lạng Sơn.
Sông Bạch Đằng: X. thuộc Tấn, Cao Tổ, năm Thiên Phúc thứ 3 (Tb.5, 19).
Chi Lăng: Tên xã, thuộc châu Ôn, phủ Trường Khánh, ở đầu địa giới Lạng Sơn.
Sông Chi Lăng: Con sông ở xã Chi Lăng.
Tây Kết: Không rõ ở đâu.
Bầy tôi dâng tôn hiệu263 .
Nhà vua đã thắng được quân Tống, trong nước đâu đấy yên ổn. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Minh Kiền ứng vận thần vũ thăng bình chí nhân quảng hiếu hoàng đế.
Nhâm Ngọ, năm thứ 3 (982). (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 7).
Lập Đinh thái hậu là Dương thị làm Đại thắng minh hoàng hậu.
Dương thị, trước kia lấy Đinh Tiên Hoàng, sinh ra Vệ vương Toàn. Toàn nối ngôi, hãy còn nhỏ tuổi. Thái hậu tư thông với nhà vua, mưu việc chuyển dời ngôi nhà Đinh. Đến đây lập Dương thị làm Đại thắng minh hoàng hậu. Lại lập Phụng Kiền chí lý hoàng hậu, Thuận Thánh minh đạo hoàng hậu, Trịnh quốc hoàng hậu và Phạm hoàng hậu, cộng năm Hoàng hậu.
Lời bàn của Ngô [Thì] Sĩ - Đại thắng minh là tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ mình: Thật là không còn kiêng nể chút gì cả! Sử sách ghi chép, để cười nghìn thu! Sai sứ sang nhà Tống.
Nhà vua sai sứ đi cống, nói thác là sứ giả của Đinh Toàn, vì sợ quân Tống lại sang.
Nhà vua tự mình cầm quân đi đánh nước Chiêm Thành: cả phá được quân địch.
Trước đây, nhà vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị người Chiêm Thành giam giữ. Nhà vua nổi giận; bèn sửa sang thuyền chiến và đồ giáp binh, tự làm tướng, đi đánh, chém được tướng nước ấy là Bề Mi Thuế tại trận và bắt được tù binh rất nhiều. Chúa Chàm bỏ thành chạy. Ta bắt được trăm người cung nữ và vàng bạc châu báu kể có háng vạn, san phẳng cả thành trì264 , phá hủy cả tông miếu265 ; vừa đầy một năm mới về kinh đô.
Lời chua - Chiêm Thành: Tức nước Lâm Ấp. Xem Tiền biên, thuộc Tấn, Mục đế, năm Vĩnh Hòa thứ 9 (Tb III, 20-21).
Đói to.
Quý Mùi, năm thứ 4 (983). (Tống, năm Thái Bình hưng quốc thứ 8).
Mùa xuân. Sai sứ sang Tống.
Sai sứ sang giao hảo với nhà Tống, báo cáo về tin đánh thắng Chiêm Thành.
Sông mới đã đào xong.
Khi nhà vua đi đánh Chiêm Thành, từ núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa: đường núi hiểm trở, khó đi, người ngựa đều nhọc mệt, bèn sai đào con sông mới; đến bấy giờ hoàn thành, công và tư đều được tiện lợi.
Lời chua - Núi Đồng Cổ: Ở xã Đan Nê, huyện An Định, tỉnh Thanh Hóa.
Sông Bà Hòa: Ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bây giờ là sông xã Đồng Hòa.
Giáp Thân, năm thứ 5 (984). (Tống, năm Ung Hi thứ 1).
Tháng 2, mùa xuân. Đúc tiền Thiên Phúc.
Xây điện Bách bảo thiên tuế.
Làm điện ở núi Đại Vân, trang sức bằng vàng bạc, dùng làm nơi vua coi chầu. Phía đông là điện Phong Lưu; phía tây là điện Tử Hoa; bên tả là điện Bồng Lai; bên hữu là điện Cực Lạc. Lại làm lầu Đại Vân và điện Trường Xuân làm chổ ngự tẩm266 . Bên điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc.
Lời chua - Núi Đại Vân: Ở thành Hoa Lư; bây giờ là núi xã Trường Yên.
Ất Dậu, năm thứ 6 (985). (Tống, năm Ung Hi thứ 2).
Tháng 7, mùa thu. Ngày sinh nhật hoàng đế, đua thuyền.
Lấy tre làm thành núi giả ở trong thuyền gọi là núi "nam sơn", tổ chức cuộc bơi thuyền thi. Từ đấy, năm nào cũng giữ làm lệ thường.
Sai sứ sang Tống.
Bấy giờ nhân dịp có sứ nhà Tống đến nhà vua sai sứ ta đem vàng và ngà voi sang biếu nhà Tống để thỉnh cầu lãnh chức Tiết trấn.
Bính Tuất, năm thứ 7 (986). (Tống, năm Ung Hi thứ 3).
Tháng 8, mùa thu. Tuyển lính thân quân.
Tuyển những người khoẻ mạnh, nhanh nhẹn bổ làm túc vệ gọi là thân quân: đều thích vào trán ba chữ "Thiên tử quân".
Tháng 10, mùa đông. Sứ nhà Tống sang.
Nhà Tống sai tả bổ khuyết là Lý Nhược Chuyết và quốc tử giám bác sĩ là Lý Giác đem bài chế văn sang phong nhà vua làm kim tử quang lộc đại phu, kiểm hiệu thái uý, An nam đô hộ Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, Kinh Triệu quận khai quốc hầu. Bài chế văn ấy đại lược nói: "...Trước kia Sĩ Nhiếp là người cứng cáp sáng suốt, biến đổi thói tục đất Việt khiến hết thảy đều vào khuôn phép. Úy Đà267 hết lòng cung kính mềm dẻo, vâng theo chiếu chỉ nhà Hán, không dám trái nghịch. Bây giờ khanh phải vỗ yên bộ lạc man di, để tuyên dương ơn đức của thiên tử". Nhà vua tiếp nhận chế văn ấy với vẻ rất cung kính, thiết đãi sứ giả với lễ rất hậu. Rồi giao trả Tống bọn Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân trước đây ta đã bắt được. Nhà vua lại bảo Nhược Chuyết và Lý Giác: "Chỗ chúng tôi là một nước nhỏ mọn, núi sông khơi diễn, hẻo lánh một nơi, cách thiên triều hàng muôn dặm. Sứ giả đi lại, trèo non vượt suối, chẳng cũng nhọc mệt lắm ru?". Lý Giác thưa: "Bản triều268 phân phong chư hầu, đất hàng muôn dặm, quận hàng bốn trăm, có chỗ bằng phẳng, cũng có nơi hiểm trở, chứ như một phương này, đã lấy gì làm xa?".
Dùng Từ Mục là Tổng quản giữ việc quân và dân, ban cho tước hầu; Phạm Cự Lạng làm Thái úy.
Lời chua - Tổng quản: Tên chức quan nhà Đường, chuyên giữ quân sự. Nhà Lê phỏng theo phép nhà Đường, đặt chức quan này, lại cho kiêm giữ cả dân sự.
Sai sứ sang Tống.
Sai Ngô Quốc Ân đem sản vật địa phương sang biếu và nói về việc người Chàm là Bồ La Át đem hơn trăm người trong họ sang xin quy phụ nhà Tống.
Lời cẩn án - Sử của Ngô [Thì] Sĩ chép: "Bấy giờ nhà vua mới bình được Chiêm Thành, người Chiêm Thành sợ bị lấn lướt bức bách, nên đem hơn trăm người trong họ cầu xin quy phụ nhà Tống. Nhà đương cục ở Đam Châu đem việc ấy tâu lên triều Tống. Việc này nhà làm sử nhận lầm là do sứ thần nước ta sang Tống tâu bày". Xét chỗ sử của Ngô [Thì] Sĩ này không giống với Sử cũ, nay xin chép cả để làm tài liệu tham khảo. Lời chua - Đam Châu: Tức Đam Nhĩ. Xem Triệu Vương, năm Kiến Đức thứ 1 (Tb.II, 6).
Đinh Hợi, năm thứ 8 (987). (Tống, năm Ung Hi thứ 4).
Mùa xuân. Nhà vua cày ruộng tịch điền269 .
Ban đầu, nhà vua cày ruộng ở Đội Sơn270 , được một lọ vàng; sau lại cày ở núi Bàn Hải, được một lọ bạc; do đó đặt tên là "ruộng Vàng, ruộng Bạc".
Lời chua - Đội Sơn: Tên khác gọi là núi Long Đội, ở xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nội271 .
Núi Bàn Hải: Không rõ ở đâu.
Đâu đấy được mùa cả.
Mậu Tí, năm thứ 9 (988). (Tống, năm Đoan Củng thứ 1).
Sứ nhà Tống sang.
Năm ấy, vua Tống đổi niên hiệu, sai viên ngoại lang bộ Hộ là Nguỵ Tường, trực sử quán là Lý Độ đem bài chế văn sang tiến phong nhà vua tước Khai quốc công. Nhà vua sai sứ sang Tống biếu sản vật địa phương để đáp lễ.
Lời cẩn án - Theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng và sách Giao Chỉ di biên, năm Ung Hi thứ 3 (986), Tống phong nhà vua làm kiểm hiệu thái uý Kinh Triệu quận Khai Quốc hầu; đến năm Đoan Củng thứ 1 (988), tiến phong làm Khai Quốc công. Thế là có theo thứ tự từ thấp lên cao. Sử cũ trước thì chép phong Kinh Triệu Quận hầu, ở đây thì chép phong Kiểm hiệu thái uý: Như vậy là lầm. Nay đính chính lại. Kỷ Sửu, năm Hưng Thống thứ 1 (989). (Tống, năm Đoan Củng thứ 2).
Tháng giêng, mùa xuân. Đại xá.
Ban ơn đại xá vì cớ đổi niên hiệu là Hưng Thống.
Lập con là Long Việt làm Nam Phong vương.
Phong con trưởng là Long Thâu làm Kình Thiên đại vương con thứ hai là Ngân Tích làm Đông Thành vương; lập con thứ ba là Long Việt làm Nam Phong vương272 .
Dương Tiến Lộc đem dân châu Hoan và châu Ái nổi lên làm phản, bị bắt và bị giết chết.
Tiến Lộc, làm chức Quản giáp, vâng mệnh đi thu thuế ở châu Hoan và châu Ái. Nhân đó, Lộc cầm đầu hai châu ấy nổi lên làm phản, rồi xin theo về với nước Chiêm Thành; nhưng người Chiêm Thành không nhận. Nhà vua đem quân đi đánh bắt giết được Tiến Lộc và giết người hai châu ấy không biết bao nhiêu mà kể.
Lời chua - Hoan Châu: Tức Nghệ An.
Ái Châu: Tức Thanh Hóa. Xem Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 10 (Chb. XXI, 20-21).
Chiêm Thành: Tức Lâm Ấp. Xem thuộc Tấn, Mục đế, năm Vĩnh Hòa thứ 9 (Tb. III, 20-21).
Quản giáp: Tên chức quan.
Canh Dần, năm thứ 2 (990). (Tống, năm Thuần Hóa thứ 1).
Sứ nhà Tống sang.
Nhà Tống sai Tả chính ngôn là Tống Cảo và Hữu chính ngôn là Vương Thế Tấc đem bài chế văn sang gia phong nhà vua lên chức vị "đặc tiến"273 . Nhà vua sai chỉ huy sứ Đinh Thừa Chinh đem chu sư274 sang Thái Bình quân đón sứ nhà Tống, ròng rã nửa tháng trời đến sông Bạch Đằng, cứ theo nước thuỷ triều mà đi. Khi đến Trường Châu275 nhà vua ra đón sứ giả ở phía ngoài đô thành, cùng nhau giong cương ngựa đi song song. Đến cửa Minh Đức, nhà vua đón lấy bài chế văn nhưng không lạy, nói vì năm mới rồi, đi đánh giặc Mán, ngã ngựa đau chân. Bọn Tống Cảo tin là thực. Ngày hôm sau, đặt tiệc đãi sứ, nhà vua bảo Tống Cảo rằng: "Đường sá xa khơi, núi sông hiểm trở, sau này nếu có quốc thư, xin cứ giao nhận ở đầu biên giới, khỏi phiền sứ giả đến đây". Tống Cảo đem việc này về tâu, vua Tống ưng thuận.
Theo lời chú giải trong sách Đông tây dương khảo của Trương Nhiếp nhà Minh, Tống Cảo đi sứ về, nói với vua Tống rằng: năm ngoái, đến Giao Châu, Lê Hoàn đem quân và dân bơi thuyền, gióng trống, hò reo; những núi ở gần đô thành thì hư trưng thanh thế: cắm rặt cờ trắng, làm như dáng vẻ bày binh bố trận. Kịp khi đến cửa kinh đô, Lê Hoàn nhận lấy tờ chiếu, nhưng không lạy. Có đưa đến sứ quán con rắn lớn và nói: nếu sứ giả ăn được thì sẽ làm thịt để thết. Lại trói hai con hổ đem đến sứ quán. Sứ giả đều từ chối, không nhận. Ba nghìn quân sĩ của Lê Hoàn đều có thích ở trán ba chữ "Thiên tử quân".
Lời chua - Thái Bình quân: Theo sách Thanh Nhất thống chí , Thái Bình quận, đời Tần, là đất Tượng Quận; đời Hán là huyện Hợp phố; nhà Đường đổi là Liêm Châu; đến Tống, khoảng niên hiệu Thái bình hưng quốc276 đặt làm Thái Bình quân, qua niên hiệu Hàm Bình277 lại đặt là Liêm Châu. Bây giờ nhà Thanh vẫn theo tên cũ, cho thuộc Quảng Đông thống bộ.
Bạch Đằng Giang: Xem thuộc Tấn, Cao tổ, năm Thiên Phúc thứ 3 (Tb. V, 19-20).
Trường Châu: Xem thuộc Đường, Cao tông, năm Điều Lộ thứ 1 (Tb. IV, 19). 

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Hồ Nguyên Trừng và Nam Ông mộng lục


Hồ Nguyên Trừng và Nam Ông mộng lục

Nam Ông mộng lục (Chép lại những giấc mộng của Nam Ông), là tập hồi ký chữ Hán đầu tiên và là tác phẩm đầu tiên mở đường cho khuynh hướng viết về “người thực, việc thực” trong văn xuôi tự sự Việt Nam do Hồ Nguyên Trừng soạn trong thời gian bị bắt đưa sang Trung Quốc vào thế kỷ 15.

1. Tác giả:
Hồ Nguyên Trừng (không rõ năm sinh và năm mất) [1], nguyên họ Lê, tên tự: Mạng Nguyên, biệt hiệu: Nam Ông); là người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai cả của vua Hồ Quý Ly, và là anh của vua Hồ Hán Thương trong lịch sử Việt Nam.

Dưới triều nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng từng giữ chức Thượng Lân tự, Tư đồ. Đầu năm 1400, cha ông truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua, lập nên nhà Hồ. Sau đó, Hồ Nguyên Trừng được cử làm Tả tướng quốc.

Năm 1405, vua nhà Minh lấy cớ đòi đất Lộc Châu cử quân sang đánh nước Việt. Năm 1406, Hồ Nguyên Trừng được giao nhiệm vụ cầm quân chống lại.

Ngày 12 tháng 5 (âm lịch) năm Đinh Hợi (1407), cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân nhà Minh bắt tại Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi bị áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc). Kể từ đó, nhà Hồ mất, cả nước Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh.

Biết được Hồ Nguyên Trừng (và Hồ Nhuế) có tài năng, vua Minh Anh Tông cho ân xá, nhưng buộc phải đổi họ khác (vì không thừa nhận gia đình ông là dòng dõi Ngu Thuấn[2]). Vì vậy ở sách Nam Ông mộng lục, tác giả đề tên là Lê Trừng (đổi lại họ Lê như cũ).

Sau, ông chế được súng thần công, nên lại được làm quan ở bộ Công, thăng đến chức Tả thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục.

2. Giới thiệu sơ lược:
Mặc dù phải sống lưu vong ở nước người, Hồ Nguyên Trừng vẫn tưởng vọng về cố quốc, nên tự gọi là Nam Ông (Ông già nước Nam). Bằng hồi ức của mình, tác giả đã viết lại các mẫu chuyện về những con người ở nước Nam tài đức mà mình không còn được nhìn thấy nữa, và ông coi đó như là một giấc mộng, nên đặt cho tên sách là Nam Ông mộng lục.

Tác phẩm gồm 31 thiên, hiện chỉ còn 28 thiên (ba thiên thiếu đều nằm sau thiên 23, đó là: Mệnh thông thi triệu, Thi chí công danh, Tiểu thi lệ cú).

Sách được in lần đầu vào năm 1442 ở Trung Quốc (năm này tương ứng với thời Lê sơ ở Việt Nam), nằm trong Tập IX của bộ Tùng thư Hàm lâu bí kíp.

Trong sách có bài tựa của Hồ Huỳnh (người nhà Minh, làm Thượng thư đồng triều với tác giả), viết năm 1440); thứ đến bài tựa của tác giả đề năm 1438. Cuối sách có bài hận tự của Tống Chương (người Việt Nam, làm quan cho triều Minh), viết năm 1442. Sau cùng là bài bạt của Tôn Dục Tú, viết năm 1440, nói về việc xuất bản sách này.

Nội dung sách ghi chép về các sử thoại và một số chuyện về những nhân vật nước Nam thời Lý - Trần, gồm đủ loại: nhà Nho, thầy thuốc, đạo sĩ, nhà thơ, thầy tu, tướng sĩ, các vua đời Trần, hoặc bà con thân thích với tác giả. Đối với Hồ Nguyên Trừng, đó là những sự kiện và những con người tiêu biểu của nước Nam.

Năm 1999, Nam Ông mộng lục đã được Ưu Đàm và La Sơn cùng dịch, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và chú giải, nhà xuất bản Văn học (Hà Nội) ấn hành.

3. Bài Tựa (bản dịch):
Sách Luận ngữ từng nói: "Trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu (tên của Khổng Tử) này vậy", huống hồ nhân vật cõi Nam Giao (chỉ Việt Nam ngày nay) từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở cháy sạch, thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn được ai nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điểm này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách đặt tên là Nam Ông mộng lục phòng khi có người đọc tới! Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử, tuy đóng khung trong vòng truyện vặt, nhưng cũng là để góp vui những lúc vui chuyện.
Có kẻ hỏi tôi rằng: “Những người ông chép đều là người thiện, vậy thì trong các truyện bình sinh ông nghe thấy, lại chẳng có chuyện nào bất thiện ư?” Tôi trả lời họ rằng: “Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được, còn chuyện bất thiện thì không phải không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thôi”. Họ lại hỏi: “Sách lấy tên là mộng, ý nghĩa ở chỗ nào?” Tôi trả lời: “Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn hai tiếng Nam Ông thì chính là tên chữ, của Trừng tôi vậy”!
Ngày Trùng cửu năm Mậu Ngọ, niên hiệu Chính Thống (tức Minh Anh Tông) thứ ba (1438).
Lê Trừng, tên chữ là Mạnh Nguyên, người xứ Nam Giao, giữ chức Chính Nghị đại phu, Tư trị doãn, Công bộ tả thị lang, đề tựa.

4. Mục lục:
Sách Nam Ông mộng lục không chia số quyển, trong mục lục có đề 31 thiên mục, nhưng chỉ còn 28 thiên mục như đã nói trên. Sau đây là mục lục của sách:

1.Nghệ vương thủy mạt : Chuyện vua Trần Nghệ Tông.
2.Trúc Lâm thị tịch: Chuyện về sự băng hà của vua Trần Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm.
3.Tổ linh định mệnh: Chuyện về linh hồn của ông là vua Trần Nhân Tông quyết truyền ngôi cho cháu là Trần Minh Tông.
4.Đức tất hữu vị: Chuyện vua Trần Minh Tông lên làm vua.
5.Phụ đức trinh minh : Chuyện vợ vua Trần Duệ Tông đi tu.
6.Văn táng khí tuyệt : Chuyện về vua Trần Thái Tông qua đời.
7.Văn Trinh ngạnh trực: Sự cương trực của Chu Văn An.
8.Y thiện dụng tâm: Thầy thuốc giỏi ở tấm lòng.
9.Dũng lực thần dị : Chuyện Lê Phụng Hiểu dùng sức mạnh lạ thường phá giặc.
10.Phu thê tử tiết: Chuyện hai vợ chồng Ngô Miễn cùng tử tiết dưới áp lực quân nhà Minh, đời Vĩnh Lạc.
11.Tăng đạo thần thông: Chuyện thi tài chống yêu quái giữa Phật tăng Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền.
12.Tấu chương minh nghiệm: Tờ tâu lên thiên đình có ứng nghiệm.
13.Áp lãng chân nhân: Chuyện đạo sĩ họ La (không rõ tên) đem pháp thuật dẹp sóng biển cho vua Lý Thái Tông.
14.Minh Không thần dị: Chuyện thần dị của nhà sư Nguyễn Minh Không.
15.Nhập mộng liệu bệnh: Chuyện nhà sư Quán Viên chữa mắt cho vua Trần Anh Tông trong giấc mộng.
16.Ni sư đức hạnh: Chuyện ni sư tu đắc đạo.
17.Cảm khích đồ hành: Cảm kích mà đi bộ, kể chuyện Trần Đạo Tái (con tướng Trần Quang Khải) hăng hái đi bộ.
18.Điệp tự thi cách: Nói về bài thơ lối điệp tự của vua Trần Thánh Tông.
19.Thi ý thanh tân : Phẩm bình thơ hay của vua Trần Nhân Tông trong tập Đại Hương Hải ấn.
20.Trung trực thiện chung: Chuyện hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại trung thực mà giữ được trọn vẹn tiết tháo.
21.Thi phúng trung gián: Bài thơ dùng lời trung để can gián (chuyện Trần Nguyên Đán làm thơ can vua Trần Nghệ Tông không được bèn bỏ về).
22.Thi dụng tiền nhân cảnh cứ : Làm thơ lại dùng câu thơ cũ của thi nhân mà khen thi nhân ấy (chuyện Nguyễn Trung Ngạn làm thơ viếng Trần Toại hiệu Sầm Lâu, tác giả Sầm Lâu tập).
23.Thi ngôn tự phụ: Lời thơ khoe khoang của Nguyễn Trung Ngạn.
24.Thi tửu kinh nhân: Chuyện Hồ Tông Thốc uống rượu khỏe, làm thơ nhiều.
25.Thi triệu dư khương: Chuyện Nguyễn Thánh Huấn (ông ngoại Hồ Quý Ly) giỏi thơ.
26.Thi xứng tướng chức : Thơ của hai anh em Trần Nghệ Tông tiễn sứ nhà Nguyên, làm khi chưa lên làm vua.
27.Thi thán chí quân: Kể việc Trần Nguyên Đán làm thơ tự thán để can gián vua.
28.Quí khách tương hoan: Kể việc tướng Mạc Ký, người Đông Triều, làm thơ xướng họa khi đi tiễn sứ nhà Nguyên là Hoàng Thường.
Bài Tựa sách Nam Ông mộng lục


*
Nam Ông mộng lục là một tập ghi chép về các mẩu chuyện “người thiện”, “người tài” của đất nước Đại Việt. Những mẩu chuyện này được hồi ức lại như là một giấc mơ về dĩ vãng của Hồ Nguyên Trừng.
Sách được viết, được in và lưu hành ở Trung Quốc nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện chính trị và xã hội ở nơi nó ra đời...Tuy vậy, qua 28 thiên truyện còn lại, ta không hề thấy tác giả có lời nào nhằm biểu dương công ơn “khai hóa” của “thiên triều” đối với người Nam (tức Đại Việt). Trái lại, điều tác giả muốn gửi gắm là: "nước Nam vốn cũng có những con người rất đẹp, tiêu biểu cho đạo đức, phẩm chất và tài năng, có thể đem ra làm gương cho đọc giả phương Bắc (Trung Quốc) cùng soi"...

Chú thích:
[1] Các sách sử tiếng Việt đều ghi vậy. Ở wikipedia tiếng Trung Quốc ghi ông sinh năm 1374 và mất năm 1446 tại Trung Quốc, nhưng không cho biết đã căn cứ vào đâu.
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo:

-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và Tập 2 in chung) . Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ " Hồ Nguyên Trừng " trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Văn học thế kỷ XVII. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
-Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.
-Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ “Hồ Nguyên Trừng”. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
-Trương Hữu Quýnh (Chủ biên)-Phan Đại Doãn-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.

Lĩnh Nam chích quái

                                                             
Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪; có nghĩa là "Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam [1]". Có sách chép là Lĩnh Nam ‘trích’ quái [2]), là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.

 I. Tác giả:
Tương truyền Trần Thế Pháp (? - ?), một danh sĩ đời nhà Trần, là tác giả bộ sách Lĩnh Nam chích quái. Thông tin này đã được ghi trong các sách: Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm [3], Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.

Tiến sĩ Vũ Quỳnh [4], trong bài Tựa của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính [5]vào năm Hồng Đức thứ 23 (Nhâm Tý, 1492). Tuy nhiên, trong bài Tựa không có câu nào nói về tác giả.

Cùng thời gian đó, tiến sĩ Kiều Phú (1447-?) [5]cũng nhuận chính cho sách, có điều là mức độ sửa chữa theo quan điểm của ông nhiều hơn, so với bản của Vũ Quỳnh. Việc làm này đã được ông nói rõ trong bài Hậu tự đề năm Hồng Đức thứ 24 (Quý Sửu, 1493). Tuy nhiên, trong bài cũng không có câu nào nói về tác giả.

Có tài liệu [6] nói Vũ Quỳnh và Kiều Phú cùng hợp tác để làm việc nhuận chính, nhưng xem hai bài Tựa của hai người thì không thấy nói gì đến sự cộng tác đó.

Sau đó (có lẽ khoảng năm 1679), một người khác là Nguyễn Nam Kim đã làm thêm phần Tục biên gồm 4 truyện.

Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), Vũ Đình Quyền phụng chỉ soạn thêm 2 truyện.

Năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Vũ Khâm Lân cũng có tham gia soạn thêm, vì ở truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chua rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại.

Đến đời nhà Mạc, có một nho sinh tên là Đoàn Vĩnh Phúc (từng làm việc ở Cục tú lâm, thuộc Viện hàn lâm) cũng tham gia bổ sung cho bộ sách, bằng cách cắt xén ở sách Việt điện u linh tập chép thêm vào phần sau.

II. Văn bản:
Tóm tắt đặc điểm 4 bản Lĩnh Nam chích quái hiện có ở Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội):

-Bản A. 33: Là bản chính đã dùng để phiên dịch sách Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1960 [7]. Bản này chép lại từ một bản cũ đề năm Chính Hòa thứ 18 (1697), có 2 quyển, gồm 22 truyện. Ghi các tên người: Trần Thế Pháp (biên tập), Vũ Quỳnh (hiệu đính), Kiều Phú (san dịch).

-Bản A. 1200: Theo mục lục có 45 truyện, nhưng thiếu mất 10 truyện (từ truyện Lý Phục Man [truyện 35] đến truyện Huyền Quang [truyện 45]).

-Bản A. 1300: Mất hẳn phần đầu sách, chỉ còn từ nửa đầu truyện Kim Quy (truyện 13). Bản này có mấy đặc điểm:
-Sách có 3 quyển, chứ không phải 2 quyển như các bản khác. Trong sách có bài Hậu tự của Kiều Phú đề năm Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493).
-Sau Mục lục, có dòng chua rõ phần Tục bổ (4 truyện) là của Nguyễn Nam Kim.
-Ở phần Tăng bổ có 2 truyện ghi tên tác giả là Vũ Đình Quyền phụng chỉ vua Lê Hiển Tông làm năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749).
-Ở phần Tục bổ, nơi truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chua rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại vào năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757).

-Bản A. 2107: Bản này ghi tên sách là Lĩnh Nam chích quái truyện, có ghi rõ là do Kiều Phú làm, nhưng trong sách không có bài Tựa của ông mà chỉ có bài Tựa của Kiều Phú. Một số tên truyện trong tập này có sửa đổi (thêm một hai chữ ở đằng trước) như: Chưng bính truyện, đổi là Lang Liêu chưng bính truyện, Tân lang truyện đổi là Cao Thị Tân lang truyện, Tây qua truyện đổi là Mai thị Tây qua truyện...
Ngoài ra, PGS. TS Nguyễn Đăng Na cũng cho biết ở Viện Sử học (Việt Nam) còn có bản Lĩnh Nam chích quái mang ký hiệu HV 486. Đây là bản chưa được Kiều Phú sửa chữa.

Vì lẽ ấy, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Lĩnh Nam chích quái không hẳn là sách của một hai tác giả nào, mà là một bộ sưu tập truyền thuyết, truyện cổ tích, do nhiều người nối tiếp nhau sưu tập, cải biên. Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú chỉ là những người đầu tiên làm việc đó. Trong số này, Trần Thế Pháp chỉ là lời “tương truyền”, văn bản không có gì chứng minh.

III. Nội dung:
Lĩnh Nam chích quái (bản cổ, tức bản A.33 ở Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội) và bản HV 486 ở Viện Viện Sử học (Việt Nam) ) gồm 22 truyện.

Trong đó có những truyện thần thoại thời thái cổ như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Tản Viên, Truyện Đổng Thiên Vương...; có những truyện là sự tích thời Bắc thuộc như Truyện Việt tỉnh (Giếng Việt), Truyện Nam Chiếu...; có những truyện là thần tích thời Lý-Trần như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Hà Ô Lôi... Lại có truyện hoặc gắn với nguồn gốc dân tộc Việt như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Ngư tinh, Truyện Hồ tinh, Truyện Mộc tinh...; hoặc có liên quan với những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt như Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau...; hoặc có liên quan với những di tích văn hóa cổ đại của dân tộc Việt như Truyện rùa vàng, Truyện hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt...; hoặc có liên quan với những nhân vật lịch sử như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải,...

Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Lĩnh Nam chích quái chủ yếu có nguồn gốc ở Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, nên có một số truyện có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Như Truyện Giếng Việt chịu ảnh hưởng của truyện Trung Quốc, Truyện Dạ Xoa Vương chịu ảnh hưởng của văn hóa Chiêm Thành...Mặc dù vậy, tác phẩm vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức quốc gia dân tộc Việt...Đặc biệt, Lĩnh Nam chích quái có nhiều truyện mang những tư tưởng, tình cảm rất phóng khoáng. Quả đây là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần ở một thời kỳ mà mối quan hệ đạo lý giữa người với người còn cởi mở, chưa bị những khuôn sáo, tín điều gò bó quá chặt chẽ. Lại có những truyện chịu sự hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhất là các truyện do các soạn giả đời sau thêm vào. Song nhìn chung, toàn bộ tập truyện vẫn thấm nhuần một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của văn học dân gian. Có thể ít nhiều thấy được ở đó thái độ yêu ghét của nhân dân: yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp thủy chung giữa người và người (Từ điển văn học, bộ mới, tr. 861).

IV. Mục lục:
Dưới đây là mục lục tác phẩm Lĩnh Nam chích quái theo bản HV 486 của Viện Viện Sử học (Việt Nam), gồm 22 truyện, tức là bản chưa bị Kiều Phú và các người khác sửa chữa, bổ sung.

Quyển I
1. Họ Hồng Bàng
2. Ngư tinh
3. Hồ tinh
4. Mộc tinh
5. Trầu cau
6. Đầm nhất dạ
7. Đổng Thiên Vương
8. Bánh chưng
9. Dưa hấu
10. Bạch trĩ

Quyển II
11. Lý Ông Trọng
12. Việt tỉnh
13. Rùa vàng
14. Man nương
15. Thần núi Tản Viên
16. Hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt
17. Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không
18. Nam Chiếu
19. Sông Tô Lịch
20. Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải
21. Hà Ô Lôi
22. Dạ Xoa Vương [8].

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.

Chú thích:
1. Lĩnh Nam là vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh trong truyền thuyết xưa ở Việt Nam và Trung Quốc. Truyền thuyết và vùng đất này có thể liên quan đến giai đoạn Hồng Bàng trong lịch sử Việt Nam.
2. Theo GS. Kim Định, thì vấn đề đặt ra là tác giả đã dùng chữ nào: "trích" hay "chích", vì các bản có cả hai chữ, và cả hai đều có nghĩa: nếu "chích" là hái quả, thu lượm; thì "trích" cũng có nghĩa như vậy. Từ Nguyên định nghĩa chữ "trích" là dùng tay mà lấy như hái dưa hái trái (thủ thủ dã như trích qua, trích quả). Như vậy, nói "chích" hay "trích" không quan trọng, có chăng là chữ "trích" còn hàm ý "trích" từ sách khác nữa, nên nghĩa rộng hơn vì vừa thua lượm vừa trích từ sách khác. Tác giả Trần Đình Hoành cũng cho rằng trích hay chích đều được, vì đều có nghĩa là “lấy ra một phần” .
3. Đặng Minh Khiêm là người Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sống vào khoảng thế kỷ 15-16, thi đỗ hoàng giáp năm 1487, từng viết Đại Việt sử ký và Vịnh sử thi tập.
4. Vũ Quỳnh  (1452-1516) là người Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1478 đời vua Lê Thánh Tông. Ông là một trong những người đóng góp xây dựng bộ quốc sử Việt Nam, bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
5. Nhuận chính hay nhuận sắc đều có nghĩa là sửa, trau chuốt cho hay thêm một áng văn.
6. Kiều Phú (1447-?), tự Hiếu Lễ, hiệu Ninh Sơn, là người làng Lạp Hạ, phủ Quốc Oai (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi (1476) niên hiệu Hồng Đức thứ 6. Trước giữ chức giám sát ngự sử xứ Kinh Bắc, sau giữ chức tham chính tại triều (theo Trần Văn Giáp, sách ở mục tham khảo, tr. 1115).
6. Đặng khoa bị khảo, phần huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây (dẫn theo Trần Văn Giáp, tr. 1103).
7. Vũ Quỳnh, Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, do Đinh Gia Khánh-Nguyễn Ngọc San phiên dịch, chú thích & giới thiệu. Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1960.
8. Có sách đề chữ “truyện” ở đằng trước. Ở đây ghi theo sách Văn học thế kỷ X-XIV do PGS. TS. Nguyễn Đăng Na làm chủ biên (tr. 384-433).

Sách tham khảo:
-Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Tập 3, bản dịch). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và Tập 2 in chung), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003.
-Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học thế kỷ X-XIV. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Lĩnh Nam chích quái" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1, mục “Lĩnh Nam chích quái lục”). Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.

Ảnh:
Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, bản chép tay lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Truyện thơ Quan Âm Thị Kính


Quan Âm Thị Kính, còn có tên là Quan Âm tân truyện là một truyện thơ Nôm Việt Nam. Theo văn bản do GS. Dương Quảng Hàm giới thiệu, thì truyện gồm 786 câu lục bát [1].

A. Tác giả:
Từ lâu, truyện thơ Quan Âm Thị Kính được xem là của tác giả "khuyết danh", nhưng hiện nay có hai giả thuyết như sau:

-Theo nghiên cứu của Hoa Bằng (1902-1977), thì tác giả của truyện thơ này là Nguyễn Cấp (? - ?), một nhà văn sống vào nửa đầu thế kỷ 19. Ông là người ở thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương; nay thuộc thành phố Hà Nội. Sau khi đỗ Giải nguyên năm Quý Dậu (1912), ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức Tri phủ Thiên Trường (1829). Sau vì một chuyện lôi thôi trong kiện tụng mà vợ ông có dính líu, ông bị bắt giam, nhưng trốn được. Nhờ Nguyễn Công Trứ bấy giờ đang làm Tham tán quân vụ ở Lạng Giang che chở, nên ông đến ẩn tu tại đây. Tác phẩm Quan Âm Thị Kính được ông sáng tác vào lúc cuối đời, đã thể hiện phần nào tâm sự u uất của ông.

-Theo Gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh do Dương Xuân Thự cung cấp, thì truyện thơ Quan Âm Thị Kính do Đỗ Trọng Dư (1786 - 1868) sáng tác. Ông là người xã Đại Mão, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc; nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Hương cống năm 1819, ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức Tri phủ Quốc Oai. Ở đây, ông bị kiện là thu tiền của dân không hợp lệ nên bị bãi chức (vì xin một chức vị trong phủ không được, mà một Nho sinh đã làm đơn kiện ông), phải về nhà dạy học. Chán nản với thế sự, ông đã viết Quan Âm Thị Kính để gửi gắm lòng mình. Năm 1876, con ông là Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ chép lại, đến năm 1948, thì tác phẩm (bản bằng chữ Quốc ngữ) được in ra (trên bản in đề rõ là của Đỗ Trọng Dư).

Đề cập đến vấn đề tác giả, GS. Nguyễn Huệ Chi có ý kiến như sau:
Chưa rõ hai giả thuyết trên, thuyết nào gần chân lý hơn. Cũng có thể cả hai người, Nguyễn Cấp vả Đỗ Trọng Dư đều có liên quan đến việc cho ra đời tác phẩm Quan Âm Thị Kính...Tuy nhiên có phần chắc Đỗ Trọng Dư là người soạn sau, vì bản in sớm nhất truyện thơ Quan Âm Thị Kính hiện còn là vào năm Tự Đức 21 (1868) [2].
Trong khi chờ đợi các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm, phần tác giả ở đây vẫn tạm ghi là “khuyết danh”.

B. Tác phẩm:
Truyện Quan Âm Thị Kính cốt tả đức tính nhẫn nhục và lòng từ bi của bà Thị Kính (nhân vật chính), vì đó mà sau này bà trở thành Phật Quan Âm. Theo bản văn do GS. Dương Quảng Hàm giới thiệu, truyện gồm 786 câu, và có thể chia làm 5 hồi như sau:

I.Thị Kính mắc tiếng oan giết chồng (câu 1-224):
Thị Kính, người nước Cao Ly, nguyên kiếp trước là đàn ông, tu hành đắc đạo sắp thành Phật; nhưng Phật Thích-ca muốn thử lòng, mới bắt đầu thai xuống làm một cô gái nghèo nhà họ Mãng, chịu nhiều cảnh oan khổ để xem sao. Lớn lên, Thị Kính lấy chồng học trò tên là Thiện Sĩ. Một đêm chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, vợ ngồi khâu bên cạnh, thấy một sợi râu mọc ngược, sẵn có dao cầm tay nên toan cắt đi. Chồng giật mình tỉnh dậy, tưởng vợ có bụng hại mình, liền hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy tới, một mực gán cho Thị Kính tội mưu sát chồng.

II. Thị Kính đi tu (câu 225-370):
Bị đuổi về nàng cha mẹ đẻ, vì quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân Tự, được đặt pháp danh là Kính Tâm.

III. Thị Kính mắc tiếng oan với Thị Mầu (câu 371-584):
Trong vùng có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ. Cô này lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm liền đem lòng say đắm. Bị Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo, nhưng trước sau Kính Tâm vẫn thờ ơ. Không nén được lòng ham muốn, Thị Mầu có mang với người đầy tớ. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm. Vì thế Kính Tâm bị sư cụ bắt ra ở ngoài cổng chùa.

IV. Thị Kính nuôi con Thị Mầu (câu 385-692):
Ít lâu sau, Thị Mầu sinh một con trai, bèn đem tới cổng chùa giao phó cho Kính Tâm nuôi dưỡng. Được ba năm đứa bé đã khôn lớn, thì Kính Tâm mắc bệnh nặng rồi mất. Trước khi qua đời, Kính Tâm có viết một bức thư để lại cho Cha mẹ.

V. Thị Kính rửa sạch tiếng oan và thành Phật (câu 693-786):
Xem thư tuyệt mệnh của tiểu Kính Tâm, người nhà mới biết tội mưu giết chồng là oan. Khi liệm thi hài, sư vãi trong chùa mới rõ Kính Tâm là phụ nữ. Vậy là cả hai nỗi oan đều được tháo gỡ. Sau đức Phật Thích-ca xét Kính Tâm quả là người tu hành đắc đạo, cho bà được siêu thăng làm Phật Quan Âm.

*
Nhân vật Thị Kính từ lâu đã trở thành một điển hình sắc sảo cho số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, nơi tập trung chồng chất mọi nỗi bất công, oan nghiệt. Và thông qua cuộc đời Thị Kính, bức tranh ngang trái đầy mâu thuẫn của xã hội phong kiến thời tác giả sống, hiện lên thật rõ nét...
Thêm vào đó, bút pháp viết truyện của tác giả thật già dặn, lời thơ nhiều chỗ điêu luyện, chải chuốt (châm biếm hóm hỉnh, như khi nói về Thị Mầu; dồi dào cảm xúc như khi nói về cái chết của Thị Kính) nên càng tăng sức phổ biến của tác phẩm (câu thành ngữ “Oan như Thị Kính” quen thuộc của người Việt đã chứng tỏ sức sống của câu chuyện)...Tuy nhiên, triết lý “nhẫn nhục” cũng đã làm cho truyện thiếu đi một sức phản kháng cần thiết.

Trong quá trình lưu hành, ở một số vùng, người ta đã tự ý sửa lại hoặc viết lại câu chuyện Quan âm Thị Kính. Ngày nay còn có thể tìm thấy một số dị bản, thậm chí có bản viết mới lại hoàn toàn như Truyện Thị Kính ở Nghệ-Tĩnh, và tiêu biểu hơn cả là vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính...

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.Nguyễn Huệ Chi (tr. 1471) và Thanh Lãng (tr. 606) đều ghi giống Dương Quảng Hàm, tức truyện có 786 câu. Văn bản bằng chữ Quốc ngữ do nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911 thì truyện gồm có 788 câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm viết cho cha mẹ.
2.Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1472.

Sách tham khảo:
-Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển (mục "Quan Âm Thị Kính"). Trung tâm học liệu xuất bản. Bản in lần thứ 9, Sài Gòn, 1968.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Quan Âm tân truyện" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
-Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển Trung, đề mục “Truyện Quan Âm Thị Kính”), Quốc học tùng thư, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
.

Truyện thơ Quan Âm Thị Kính

Quan Âm Thị Kính, còn có tên là Quan Âm tân truyện là một truyện thơ Nôm Việt Nam. Theo văn bản do GS. Dương Quảng Hàm giới thiệu, thì truyện gồm 786 câu lục bát [1].

A. Tác giả:
Từ lâu, truyện thơ Quan Âm Thị Kính được xem là của tác giả "khuyết danh", nhưng hiện nay có hai giả thuyết như sau:

-Theo nghiên cứu của Hoa Bằng (1902-1977), thì tác giả của truyện thơ này là Nguyễn Cấp (? - ?), một nhà văn sống vào nửa đầu thế kỷ 19. Ông là người ở thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương; nay thuộc thành phố Hà Nội. Sau khi đỗ Giải nguyên năm Quý Dậu (1912), ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức Tri phủ Thiên Trường (1829). Sau vì một chuyện lôi thôi trong kiện tụng mà vợ ông có dính líu, ông bị bắt giam, nhưng trốn được. Nhờ Nguyễn Công Trứ bấy giờ đang làm Tham tán quân vụ ở Lạng Giang che chở, nên ông đến ẩn tu tại đây. Tác phẩm Quan Âm Thị Kính được ông sáng tác vào lúc cuối đời, đã thể hiện phần nào tâm sự u uất của ông.

-Theo Gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh do Dương Xuân Thự cung cấp, thì truyện thơ Quan Âm Thị Kính do Đỗ Trọng Dư (1786 - 1868) sáng tác. Ông là người xã Đại Mão, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc; nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Hương cống năm 1819, ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức Tri phủ Quốc Oai. Ở đây, ông bị kiện là thu tiền của dân không hợp lệ nên bị bãi chức (vì xin một chức vị trong phủ không được, mà một Nho sinh đã làm đơn kiện ông), phải về nhà dạy học. Chán nản với thế sự, ông đã viết Quan Âm Thị Kính để gửi gắm lòng mình. Năm 1876, con ông là Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ chép lại, đến năm 1948, thì tác phẩm (bản bằng chữ Quốc ngữ) được in ra (trên bản in đề rõ là của Đỗ Trọng Dư).

Đề cập đến vấn đề tác giả, GS. Nguyễn Huệ Chi có ý kiến như sau:
Chưa rõ hai giả thuyết trên, thuyết nào gần chân lý hơn. Cũng có thể cả hai người, Nguyễn Cấp vả Đỗ Trọng Dư đều có liên quan đến việc cho ra đời tác phẩm Quan Âm Thị Kính...Tuy nhiên có phần chắc Đỗ Trọng Dư là người soạn sau, vì bản in sớm nhất truyện thơ Quan Âm Thị Kính hiện còn là vào năm Tự Đức 21 (1868) [2].
Trong khi chờ đợi các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm, phần tác giả ở đây vẫn tạm ghi là “khuyết danh”.

B. Tác phẩm:
Truyện Quan Âm Thị Kính cốt tả đức tính nhẫn nhục và lòng từ bi của bà Thị Kính (nhân vật chính), vì đó mà sau này bà trở thành Phật Quan Âm. Theo bản văn do GS. Dương Quảng Hàm giới thiệu, truyện gồm 786 câu, và có thể chia làm 5 hồi như sau:

I.Thị Kính mắc tiếng oan giết chồng (câu 1-224):
Thị Kính, người nước Cao Ly, nguyên kiếp trước là đàn ông, tu hành đắc đạo sắp thành Phật; nhưng Phật Thích-ca muốn thử lòng, mới bắt đầu thai xuống làm một cô gái nghèo nhà họ Mãng, chịu nhiều cảnh oan khổ để xem sao. Lớn lên, Thị Kính lấy chồng học trò tên là Thiện Sĩ. Một đêm chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, vợ ngồi khâu bên cạnh, thấy một sợi râu mọc ngược, sẵn có dao cầm tay nên toan cắt đi. Chồng giật mình tỉnh dậy, tưởng vợ có bụng hại mình, liền hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy tới, một mực gán cho Thị Kính tội mưu sát chồng.

II. Thị Kính đi tu (câu 225-370):
Bị đuổi về nàng cha mẹ đẻ, vì quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân Tự, được đặt pháp danh là Kính Tâm.

III. Thị Kính mắc tiếng oan với Thị Mầu (câu 371-584):
Trong vùng có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ. Cô này lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm liền đem lòng say đắm. Bị Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo, nhưng trước sau Kính Tâm vẫn thờ ơ. Không nén được lòng ham muốn, Thị Mầu có mang với người đầy tớ. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm. Vì thế Kính Tâm bị sư cụ bắt ra ở ngoài cổng chùa.

IV. Thị Kính nuôi con Thị Mầu (câu 385-692):
Ít lâu sau, Thị Mầu sinh một con trai, bèn đem tới cổng chùa giao phó cho Kính Tâm nuôi dưỡng. Được ba năm đứa bé đã khôn lớn, thì Kính Tâm mắc bệnh nặng rồi mất. Trước khi qua đời, Kính Tâm có viết một bức thư để lại cho Cha mẹ.

V. Thị Kính rửa sạch tiếng oan và thành Phật (câu 693-786):
Xem thư tuyệt mệnh của tiểu Kính Tâm, người nhà mới biết tội mưu giết chồng là oan. Khi liệm thi hài, sư vãi trong chùa mới rõ Kính Tâm là phụ nữ. Vậy là cả hai nỗi oan đều được tháo gỡ. Sau đức Phật Thích-ca xét Kính Tâm quả là người tu hành đắc đạo, cho bà được siêu thăng làm Phật Quan Âm.

*
Nhân vật Thị Kính từ lâu đã trở thành một điển hình sắc sảo cho số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, nơi tập trung chồng chất mọi nỗi bất công, oan nghiệt. Và thông qua cuộc đời Thị Kính, bức tranh ngang trái đầy mâu thuẫn của xã hội phong kiến thời tác giả sống, hiện lên thật rõ nét...
Thêm vào đó, bút pháp viết truyện của tác giả thật già dặn, lời thơ nhiều chỗ điêu luyện, chải chuốt (châm biếm hóm hỉnh, như khi nói về Thị Mầu; dồi dào cảm xúc như khi nói về cái chết của Thị Kính) nên càng tăng sức phổ biến của tác phẩm (câu thành ngữ “Oan như Thị Kính” quen thuộc của người Việt đã chứng tỏ sức sống của câu chuyện)...Tuy nhiên, triết lý “nhẫn nhục” cũng đã làm cho truyện thiếu đi một sức phản kháng cần thiết.

Trong quá trình lưu hành, ở một số vùng, người ta đã tự ý sửa lại hoặc viết lại câu chuyện Quan âm Thị Kính. Ngày nay còn có thể tìm thấy một số dị bản, thậm chí có bản viết mới lại hoàn toàn như Truyện Thị Kính ở Nghệ-Tĩnh, và tiêu biểu hơn cả là vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính...

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.Nguyễn Huệ Chi (tr. 1471) và Thanh Lãng (tr. 606) đều ghi giống Dương Quảng Hàm, tức truyện có 786 câu. Văn bản bằng chữ Quốc ngữ do nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911 thì truyện gồm có 788 câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm viết cho cha mẹ.
2.Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1472.

Sách tham khảo:
-Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển (mục "Quan Âm Thị Kính"). Trung tâm học liệu xuất bản. Bản in lần thứ 9, Sài Gòn, 1968.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Quan Âm tân truyện" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
-Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển Trung, đề mục “Truyện Quan Âm Thị Kính”), Quốc học tùng thư, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Tống Trân Cúc Hoa

Tống Trân Cúc Hoa là một truyện thơ Nôm Việt Nam, khuyết danh, gồm 1.689 [1] câu lục bát, xuất hiện vào khoảng từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

1. Cốt truyện:
Tống Trân vốn là con cầu tự, khi chàng lên ba thì cha mất, nhà lâm cảnh nghèo khó. Tám tuổi, chàng phải dắt mẹ đi xin ăn. Một hôm, Tống Trân đưa mẹ tới một ngôi nhà quí phái, Cúc Hoa (con gái nhà này) thương tình đem gạo ra cho và sinh lòng yêu thương Tống Trân. Không cản ngăn được, cha Cúc Hoa đuổi nàng ra khỏi nhà. Cúc Hoa đi theo Tống Trân, lấy chàng làm chồng. Kể từ đó, Cúc Hoa vừa lo phụng dưỡng mẹ chồng, vừa lo cho chồng ăn học.

Đến kỳ, Tống Trân lên kinh thi và đỗ Trạng nguyên. Nhà vua muốn gả con gái cho tân trạng, nhưng bị chàng khước từ. Công chúa sinh lòng thù ghét, xui cha cử Tống Trân đi sứ sang nước Tần (Trung Quốc). Sang bên ấy, Tống Trân bị vua Tần khinh ghét vì là sứ giả của "An Nam tiểu quốc", đặt ra nhiều điều để hãm hại. Nhưng nhờ tài ba, trí tuệ, chàng đã vượt qua mọi thử thách, và xử thành công nhiều vụ án rắc rối. Vua Tần từ chỗ khinh ghét chuyển sang mến phục, phong Tống Trân làm Lưỡng quốc Trạng nguyên và định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối.

Trong khi đó, Cúc Hoa ở nhà một dạ nuôi mẹ, chờ chồng. Được 7 năm, cha nàng thấy Tống Trân không về nên ép nàng lấy viên Đình trưởng trong làng. Cúc Hoa không nghe, bị cha nhốt lại, đánh đập tàn nhẫn và bắt mẹ Tống Trân phải xuống ở trong chuồng trâu. Quá đau khổ và để thủ tiết với chồng, Cúc Hoa đến núi Sơn Vi định quyên sinh. Thần Sơn Tinh thấu rõ tình cảnh, hóa phép thành mãnh hổ sang nước Tần để đưa thư của Cúc Hoa cho chồng. Tống Trân dâng bức thư ấy lên vua Tần, nhà vua cho chàng về nước trước kỳ hạn.

Bấy giờ, thời gian ba năm ở rể của Đình Trưởng cũng đã hết, cha Cúc Hoa bèn tổ chức đám cưới thật linh đình. Giờ phút cuối, Cúc Hoa định quyên sinh thì Tống Trân xuất hiện, đám cưới tan vỡ. Mẹ con, chồng vợ gặp lại nhau xiết bao mừng tủi, còn cha Cúc Hoa thì bị vạch mặt nhục nhã.

Quá thương yêu Tống Trân, công chúa nước Tần xin với vua cha sang nước Việt để gặp chàng. Ra đến biển, thuyền gặp bão lớn, công chúa bị sóng đánh trôi dạt vào bờ, được hươu nai cứu sống rồi nuôi nấng. Tống Trân đi săn trong rừng gặp công chúa nước Tần rồi đưa nàng về nhà. Cúc Hoa vui lòng để Tống Trân cưới thêm công chúa làm vợ thứ.

2. Nhận xét:
-Nguyễn Phương Chi:
Tác phẩm Tống Trân Cúc Hoa lên án những thế lực tàn bạo đã ngăn cản, chà đạp lên tình yêu; đồng thời ngợi ca tấm lòng son sắt kiên trinh, ý chí phấn đấu vì hạnh phúc, vì tình yêu của những con người biết chống lại những thế lực vừa nêu và những lễ tục khắc nghiệt. Bên cạnh đó, Tống Trân Cúc Hoa còn là câu chuyện đi sứ, phản ánh mối bang giao phúc tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, tác phẩm cũng đã xây dựng tương đối thành công một số mẫu người Việt Nam truyền thống, đặt biệt là người phụ nữ với tâm hồn phong phú và đặc sắc.
Về mặt nghệ thuật, Tống Trân Cúc Hoa là câu chuyện thuần túy Việt Nam. Khác với nhiều truyện Nôm khác, truyện này hầu như không sử dụng điển cố hoặc từ Hán Việt, nhưng lại sử dụng khá nhiều “môtíp” của truyện dân gian Việt Nam. Ngôn ngữ trong truyện cũng rất giản dị, rất gần lời ăn tiếng nói của con người bình dân. Thế nhưng, mạch đi của truyện còn rườm rà, do kết cấu chưa thật chặt chẽ, ngôn ngữ quá đơn giản, thiếu trau chuốt, chưa phải là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu, hình ảnh. Mặc dù vậy, truyện vẫn được quần chúng lúc bấy giờ yêu thích và phổ biến rộng rãi [2].

-Từ điển bách khoa Việt Nam:
Tống Trân Cúc Hoa đề cập những chủ đề quen thuộc: tình nghĩa vợ chồng thuỷ chung; tài ba, trí tuệ và lòng dũng cảm của những người chân chính; thói tham lam của danh vọng tiền tài của tầng lớp trưởng giả. Điểm đặc sắc là sự kiện và nhân vật phần nào có tính chân xác lịch sử: theo tục truyền cũng như theo một số sử sách cũ và di tích, thì Tống Trân là nhân vật có thật. Chàng là người làng Vọng Phan (nay lấy tên là làng Tống Trân) bên bờ Sông Luộc, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Làng này và làng Yên Cầu cùng huyện nay vẫn có đền thờ Tống Trân, Cúc Hoa [3].

3. Thông tin thêm:
Nhà hát Chèo Hà Nội đã tiến hành dựng lại vở chèo cổ "Tống Trân - Cúc Hoa" và cho ra mắt khán giả tại Nhà hát lớn Hà Nội vào 2 ngày (12 và 13 tháng 5 năm 2010). "Tống Trân - Cúc Hoa" bản cổ của kịch tác gia Hà Văn Cầu đã được NSND Doãn Hoàng Giang dàn dựng lại, vẫn giữ nguyên bản về nội dung và thông điệp. Tham gia vở diễn này là diễn viên Đoàn 3 - Nhà hát Chèo Hà Nội. Hai diễn viên chính đảm nhiệm vai Tống Trân và Cúc Hoa là Duy Nguyễn và Tuyết Hoa.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Số câu ghi theo Nguyễn Phương Chi (Từ điển văn học, tr. 1760). Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ "Tống Trân Cúc Hoa", ghi là 1.685 câu.
[2] Theo Nguyễn Phương Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1761.
[3] Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ Tống Trân Cúc Hoa (bản điện tử, đã dẫn ở mục sách tham khảo).
Sách tham khảo:
-Nguyễn Phương Chi, mục từ "Tống Trân Cúc Hoa" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
-Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ "Tống Trân Cúc Hoa".

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Nguyễn Huy Hổ & Mai đình mộng ký


                                       Nguyễn Huy Hổ  & Mai đình mộng ký

1. Nguyễn Huy Hổ (1783-1841), trước có tên là Nguyễn Huy Nhiệm (hay Nhậm), tự: Cách Như, hiệu: Liên Pha, là nhà thơ Việt Nam thời Nguyễn.

Ông sinh ngày 17 tháng 9 năm 1783 (Quý Mão) trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).

Ông là con trai thứ của danh sĩ Nguyễn Huy Tự (tác giả truyện thơ Hoa tiên) và bà Nguyễn Thị Đài (con gái Tham tụng Nguyễn Khản, gọi danh sĩ Nguyễn Du bằng chú). Vợ Nguyễn Huy Hổ là cháu gái vua Lê Hiển Tông.

Sống trong giai đoạn lịch sử rối ren và loạn lạc, Nguyễn Huy Hổ học giỏi, nhưng không đi thi, và cũng không ra làm quan.

Năm 1923, vua Minh Mạng nghe ông giỏi nghề thuốc và giỏi thiên văn, nên triệu ông vào cung làm thuốc, và cho giữ chức Linh đài lang ở Tòa khâm thiên giám.

Ngày 8 tháng 10 năm 1841 (Tân Sửu), Nguyễn Huy Hổ mất, hưởng dương 58 tuổi.

Tác phẩm để lại có Mai đình mộng ký (Ghi chép giấc mộng ở đình Mai) gồm 298 câu thơ bằng thể lục bát có xen 2 bài thơ ngũ ngôn luật.

2. Mai đình mộng ký là truyện thơ chữ Nôm gồm 298 câu thể lục bát có xen 2 bài thơ ngũ ngôn luật Đường.
Tác phẩm được GS. Hoàng Xuân Hãn giới thiệu và công bố lần đầu tiên trên báo Thanh Nghị năm 1943. Trong Lời thiệu giới thiệu ấy có đoạn:
Thiên mộng ký này là một áng văn chương tuyệt diệu, không lời nào non, vần nào ép. Ai cũng biết Truyện Kiều, nhiều người biết Hoa tiên. Đến như Mai đình mộng ký thì không mấy ai được đọc trừ một số ít người ở La Sơn và Can Lộc. Một áng văn hay như vậy mà bị mai một trong gần trăm rưởi năm, kể cũng hơi lạ! Chúng ta há không nên sửa lại sự bất công ấy hay sao?

Lược truyện:
Mai đình mộng ký thuật lại một giấc mơ của tác giả. Nhân ngày xuân năm Kỷ Tỵ (1809), tác giả đi thăm người anh lúc ấy đang dạy học ở Nam Đàn (Nghệ An). Trên đường đi, ông ghé Phù Thạch (Nghệ An) xem hội Hoa đăng. Gặp buổi trời mưa, ông thuê đò ngược dòng sông Lam. Say ngủ trên thuyền, ông mơ thấy đến một nơi có lâu đài nguy nga cùng vườn cây xinh đẹp. Lại có một cái đình tên là Thưởng Mai đình. Một cô gái đẹp vừa đề thơ dán lên vách xong, nhưng thấy ông đến vội trở vào nhà. Ông họa lại bài thơ ấy rồi bỏ cả hai bài thơ vào ống thơ.
Thấy phía trong có tòa lâu đài, ông đánh liều vào xem. Một gái hầu ra hỏi, lấy ống thơ từ tay ông rồi chạy vào nhà trong. Ông được bà chủ của tòa lâu đài mời vào hỏi thăm tung tích. Rồi bà cho biết trước đây cha và chồng bà đều làm quan cho triều Lê, nhưng vì binh đao loạn lạc, thời thế đổi thay, nên cáo quan về ẩn ở đây và chồng bà đã qua đời hơn 10 năm. Xem thơ họa, bà biết ông có căn duyên với cô gái đề thơ. Bà khuyên ông cố gắng học hành, khi nào thi đỗ sẽ trở lại. Tác giả vâng lời lui ra và tỉnh dậy.

*
Mai đình mộng ký thể hiện tâm sự hoài Lê của tác giả. Khuynh hướng hoài Lê hay hoài cổ nói chung trong văn học Việt Nam, giai đoạn nửa thế kỷ 19, một phần thể hiện quan niệm nhân sinh của những tác giả này, nhưng một phần cũng thể hiện sự bất mãn kín đáo của họ đối với triều đại nhà Nguyễn.
Mai đình mộng ký sử dụng nhiều từ Hán và điển cố. Nói chung, lời thơ rất điêu luyện, trau chuốt, bóng bảy, có nhiều đoạn tả thiên nhiên rất đẹp.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo:
-Hoàng Hữu Yên (chủ biên), Văn học thế kỷ 19. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
-Nguyễn Lộc, mục từ "Mai đình mộng ký" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2). Quốc học tùng thư, Sài Gòn, không đề năm xuất bản.