Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Danh thần nhà Nguyễn: Đào Trí Phú

Đào Trí Phú (? - 1854?), trước có tên là Đào Trí Kính, là quan triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Khoảng năm 1854, ông bị xử “lăng trì” vì liên can đến việc mưu đoạt ngôi vua của Nguyễn Phúc Hồng Bảo.

Ông sinh tại làng Phước Kiển, thuộc Long Thành, dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai).

Cha ông, tên thụy là Hiến Tịnh (không rõ tên thật), làm quan (không rõ dưới triều nào) trải đến chức Trung nghị đại phu Thái bộc tự khanh, mẹ là người họ Lê, từng được phong làm Thục nhân.

Từ nhỏ, Đào Trí Phú là người rất ham học. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), ông thi đỗ Cử nhân tại trường Hương Gia Định. Sau đó, ông đổi tên là Đào Trí Phú, và lần lượt trải các chức quan: Thị lang bộ Hộ, Tham tri bộ Hộ, Hậu mạng sứ...[1]

Năm 1836, tàu nước Ma Ly Căn (tức Hoa Kỳ) đến vũng Sơn Trà (Đà Nẵng), ngỏ ý muốn đệ trình quốc thư xin giao thương. Vua Minh Mạng bèn cử Đào Trí Phú và Thị lang bộ Lại là Lê Bá Tú tới nơi hỏi han. Nhưng vì trưởng phái bộ là Edmund Roberts Robert bất ngờ lâm bệnh nặng, phải cho tàu đi ngay, nên việc trên bất thành.

Đầu năm 1842, vua Thiệu Trị ra Bắc Thành nhận sách phong của nhà Thanh (Trung Quốc), ông được đi theo. Sau đó, ông nhận nhiệm vụ đưa sứ giả nhà Thanh là Bửu Thanh ra cửa ải.

Cuối năm 1843, Đào Trí Phú lại được cử làm Chánh sứ dẫn phái bộ đi công cán ở Giang Lưu Ba (Singapore). Trong đoàn có Cao Bá Quát, vì phạm tội phải đi “hiệu lực”.

Năm 1854, việc mưu đoạt ngôi vua của Nguyễn Phúc Hồng Bảo không thành. Đào Trí Phú, trước đây bị cách (không rõ lý do), bị kết tội cùng phe. Sách Đại Nam thực lục chỉ ghi vắn tắt sự kiện như sau:
Giáp Dần, Tự Đức năm thứ 7 (1854)...An Phong Công là Hồng Bảo mưu khởi nghịch, rồi thắt cổ tự tử ở nơi giam. Con trai, con gái Hồng Bảo và người dự mưu là Tôn Thất Bật đã chết, đều bị tước bỏ tên trong sổ Tôn nhân. Đào Trí Phú trước đây bị cách, phải tội lăng trì. Các phạm nhân đều bị tịch thu gia sản và bắt cả thân thuộc.
Vì vậy, người thân ông phải cải họ trốn đi nơi khác, mãi đến sau này, mới dám lấy lại họ Đào. Theo lời kể còn lưu truyền tại quê hương Đào Trí Phú, thì ông không bị xử "tùng xẻo" (tức lăng trì) ở Huế mà bị giải về xử ở Long Thành rồi chôn luôn tại đó. Sau, con cháu mới lén lấy hài cốt của ông đem về chôn trong khu mộ của dòng họ ở làng Hiệp Phước [2]. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng sau khi việc mưu sự thất bại, ông giả làm dân thường, xin quá giang thuyền nước mắm trốn đi. Hay được, triều đình cho quân đuổi theo giết ông tại Diên Khánh (thuộc Khánh Hòa), rồi thủ tiêu luôn thân xác.

Áo mão cân đai của Đào Trí Phú để lại đều có gắn vàng lá, sau vì nghèo quá, chắt của ông gở bán lần hồi. Trước năm 1975, gặp lúc Bảo tàng Sài Gòn sưu tầm cổ vật, bà Lâm Thị Tô (không rõ lai lịch) đã đem những gì còn lại của di vật giao nộp để lĩnh bạc.

Hiện ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai có con đường mang tên Đào Trí Phú.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo chính:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Nhà xuất bản văn học, 2002.
-Lương Văn Lựu, Biên Hòa sử lược toàn biên (Quyển 2). Ty Thông tin Biên Hòa kiểm duyệt và cho phép xuất bản năm 1973.

Chú thích:
1.Lương Văn Lựu, trong Biên Hòa sử lược toàn biên (Quyển 2, tr. 162), kể rằng sau khi quân Pháp đánh phá Đà Nẵng vào tháng 7 năm 1858, vua Tự Đức liền cử Đào Trí Phú vào đấy để lo việc chống ngăn. Đến khi Tổng đốc Nam Nghĩa (Quảng Nam và Quảng Ngãi) là Trần Hoằng để mất đồn bị cách, ông lên thay thế. Tra trong Quốc triều sử toát yếu và Việt Nam sử lược, thì người đó là Đào Trí, chứ không phải là Đào Trí Phú. Vì vậy, thông tin của ông Lựu cung cấp, cần phải tra cứu thêm.
2. Theo thông tin có trong sách Biên Hòa sử lược toàn biên(tr. 164), thì trong ba ngôi mộ còn lại tại khu mộ, không có mộ của Đào Trí Phú.
.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Danh sĩ triều Nguyễn: Nguyễn Thuật (1842-1911)


Nguyễn Thuật (1842-1911), trước có tên là Nguyễn Công Nghệ, tự: Hiếu Sinh, hiệu: Hà Đình; là nhà thơ và là danh thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

I. Thân thế và sự nghiệp:
Nguyễn Thuật sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Dần (1842) tại làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (nay là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, là con trai thứ của ông Nguyễn Đạo và bà Võ Thị Tại.

Thuở nhỏ, ông học tại nhà, sau học tại trường Huấn huyện Thăng Bình và trường Đốc tỉnh Quảng Nam. Năm Tự Đức thứ 20 (1867), Nguyễn Thuật thi đỗ Cử nhân; năm sau, đỗ Phó bảng. Ban đầu, ông được bổ làm Biên tu sung Hàn lâm viện nội các, rồi thăng làm Giáo đạo trường Dưỡng Thiện, dạy các Hoàng tử.

Năm Tự Đức thứ 34 (1881), thăng Nguyễn Thuật hàm Tham tá các vụ, lãnh Bộ Hộ thị lang, rồi nhận lệnh làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Đến khi về nước, ông được thăng hàm Tham tri.

Năm Tự Đức thứ 36 (1883), ông lại được cử làm Phó sứ để cùng Chánh sứ Phạm Thận Duật sang Thiên Tân (Trung Quốc) bàn việc hội thương, nhưng không thành công.

Trở về nước, lúc này vua Tự Đức đã băng hà (tháng 7 năm 1883), ông được vua Kiến Phúc bổ làm Tuần vũ Thanh Hóa (1884). Cũng trong năm này, ông được cử làm Chánh chủ khảo kỳ thi Hội.

Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), quân Pháp chiếm Kinh thành Huế, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị bạn dụ Cần Vương; Nguyễn Thuật xin bãi chức vì người thân của ông tham gia chống Pháp rất đông, nhưng không được triều Đồng Khánh chấp thuận. Sau đó, ông được sung chức Tả trực Tuyên úy, rồi Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, Hiệp Biện Đại học sĩ gia hàm Thái tử Thiếu bảo.

Năm Đồng Khánh thứ hai (1887), ông được cử làm Tổng đốc Thanh Hóa. Kỳ thi Hội năm này, ông cũng được cử làm Chánh chủ khảo.

Năm Thành Thái thứ năm (1893), ông được triệu về kinh nhận hàm Hiệp tá đại học sĩ, tước An Trường tử, lãnh chức Thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần.

Năm Thành Thái thứ tám (1896), với cương vị Tổng tài Quốc sử quán, Nguyễn Thuật nhận lệnh hiệp cùng Trương Quang Đản soạn cuốn Sử Quán thư mục.

Năm Thành Thái thứ mười ba (1901), vì bất hòa với Hoàng Cao Khải, và còn vì chống đối việc Nguyễn Thân chém chết mười mấy người thuộc chi đảng của Phan Đình Phùng, nên Nguyễn Thuật xin về hưu, rồi mở trường dạy học tại quê nhà. Kính trọng, người dân địa phương gọi ông là “cụ Thượng Hà Đình”.

Đến khi chính quyền bảo hộ Pháp và Nam triều cho Nguyễn Thân về hưu và cử Hoàng Cao Khải ra Bắc Kỳ, vua Thành Thái liền ban chỉ triệu Nguyễn Thuật và cựu Thượng thư Hồ Lệ vào triều.

Sang đời vua Duy Tân, Nguyễn Thuật lại xin về hưu, rồi tiếp tục dạy học cho đến khi qua đời năm Tân Hợi (1911), thọ 69 tuổi.

Nguyễn Thuật là một quan lớn triều Nguyễn, trải các đời vua Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân mà gia đình vẫn thanh bạch, đương thời được nhân dân và sĩ phu trọng vọng.

II. Tác phẩm:
Tác phẩm viết bằng chữ Hán của Nguyễn Thuật, có:
■Hà Đình ứng chế thi sao, gồm thơ họa lại thơ vua Tự Đức, hoặc làm theo đề do nhà vua này nêu ra. Ngoài ra, còn có thơ họa đáp bạn bè, vịnh sử, vịnh vật, vịnh cảnh, cảm hoài...
■Hà Đình văn tập, gồm 244 câu đối.
■Hà Đình văn sao, gồm các bài biểu, luận, tự, bi, trướng…
■Mỗi hoài ngâm thảo, quyển chi nhất (quyển I), gồm khoảng 185 bài thơ được làm từ năm 1881, tức khi tác giả nhận mệnh đi sứ sang Trung Quốc lần đầu.
■Mỗi hoài ngâm thảo, quyển chi nhị (quyển II), gồm khoảng 118 bài thơ.
■Vãng sứ Thiên Tân nhựt ký, ghi lại cuộc hành trình sang Thiên Tân năm 1883.
■Trung Triều định lệ, viết về các định chế Trung Quốc và Triều tiên (phụ).
■Khoái thư trích lục (bản chép tay, chưa in), gồm một số câu đối và các tạp bút về văn chương, nghệ thuật,v.v...
■Hà Đình Ứng chế thi sao, gồm 36 bài thơ đáp họa thơ của vua.
■Hà Đình thi thảo trích sao và Hà Đình thi thảo trích sao (tiếp theo), bao gồm khoảng 168 bài thơ xướng họa với các danh sĩ trong và ngoài nước. Trong số này có nhiều bài được vua Tự Đức khen tặng.
Đa số các quyển trên đều được khắc in năm 1910, dưới triều vua Duy Tân.

Phần tác phẩm viết bằng chữ Nôm, ông có 3 bài thơ làm theo thể ca trù.

Ngoài ra, theo chỉ dụ vua, Nguyễn Thuật còn biên tập hoặc tham gia biên tập nhiều tác phẩm của các vua (như: Lê Thánh Tông, Thiệu Trị, Tự Đức, v.v...), của các danh sĩ (như: Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Trương Quốc Dụng, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Siêu, Phạm Quý Thích, Vũ Trinh, v.v...) và một số sách khác, như: Sử quán thư mục, Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập, Đại Nam cương giới vựng biên, Đại Nam quốc cương vựng biên, Đại Nam Quốc sử tàng thư mục, Tỳ bà quốc âm tân truyện, Thi thảo tạp biên, v.v...

*
Số tác phẩm của Hà Đình (Nguyễn Thuật) rất đa dạng, phong phú không những về lượng mà còn về chất, mỗi khi nhà văn ký thác tâm tư, tình cảm, ngôn chí của mình qua từng trang viết...Ngoài hàng trăm bài thơ văn (khoảng 800 bài, kể cả câu đối), ông cũng có sáng tác một số tranh và thư pháp có giá trị nghệ thuật.
Đó là những đóng góp phong phú của Nguyễn Thuật đối với học thuật, văn hóa Việt Nam vào thời cận đại.

III. Giới thiệu một bài thơ của ông:
Bài thơ sau đây trích trong Mỗi hoài ngâm thảo (quyển II), đã được nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng chọn đăng trong báo Tiếng Dân số 684, nhưng ghi là Vô đề. Căn cứ câu 5 và câu cuối, thì bài thơ được làm sau khi quân Pháp đã đánh chiếm Kinh thành Huế (tức sau tháng 7 năm 1885), và khi này toàn thể Nam Kỳ đã thành thuộc địa của Pháp.

Phiên âm Hán-Việt:
Tức sự I
Phi các nam lâm Thái dịch trì,
Ý sơ diện diện xán pha li.
Hòa giai trú tỉnh toan nghê liệt
Liễu mạch thu thâm yểu niểu trì
Ngọa tháp nhẫn dung tha tộc xử
Hướng ngung hoàng vấn nhất nhân bi!
Thập niên đăng hỏa tiêu trần tận
Hồi thủ Ngưu giang lệ ám thùy.

Dịch nghĩa:
Nói chuyện trước mặt (bài I)
Lầu cao phía nam giáp ao Thái Dịch,[3]
Bốn mặt cửa lồng gương sáng, treo màng the mỏng.
Thềm hoa ban ngày yên tĩnh, hình sư tử bày,
Đường liễu mùa thu muộn, ngựa hay ruổi dong.
Giường ngủ đành để cho người khác giống nằm,
Hướng vào một xó góc mà khóc thử hỏi có ai thương xót!
Công mười năm đèn sách nay đã tiêu mòn hết,
Ngoảnh đầu xa trông Bến Nghé mà nước mắt thầm rơi.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Ao Thái Dịch trong Kinh thành Huế, ngay phía sau Ngọ Môn.
Sách tham khảo:
■Nguyễn Q. Thắng, Hà Đình Nguyễn Thuật. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
■Nguyễn Q. Thắng, Sống đẹp với Hà Đình. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2009.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Tỉnh quốc hồn ca của Phan Châu Trinh


Tỉnh quốc hồn ca là tác phẩm của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh (1872 - 1926), gồm hai phần (I và II) theo thể thơ song thất lục bát, nhưng ra đời vào hai thời điểm khác nhau trong lịch sử văn học Việt Nam.

I. Tỉnh quốc hồn ca I:
Năm 1906, Phan Chu Trinh đi Nhật Bản trở về, sau đó ông viết Tỉnh quốc hồn ca I. Năm 1907, tác phẩm được phổ biến lần đầu tiên trong các trường kiểu mới ở Quảng Nam và trong trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, sau đó lan truyền ra nhiều nơi khác.

Bấy giờ, có một số nhà yêu nước cho rằng nhân dân Việt đang ở trong mê mộng: mộng khoa cử, mộng quan trường, mộng xôi thịt,...hoặc nói một cách tượng trưng là hồn nước đã mê, đã lạc...cho nên phải gọi dậy để đi theo con đường tự lập, tự cường.... Vì lẽ đó, Tỉnh quốc hồn ca I và các tác phẩm đồng thời của các nhà chí sĩ khác, như “Đề tỉnh quốc dân ca,, Hải ngoại huyết thư, Á Tế Á ca, Chiêu hồn nước, Hợp quần doanh sinh thuyết”, v.v...đã ra đời nhằm mục đích ấy.

Căn cứ Tây Hồ Phan Chu Trinh di thảo do Lê Ấm (con rể Phan Châu Trinh, chồng bà Phan Thị Châu Liên) xuất bản ở Quy Nhơn năm 1945, thì Tỉnh quốc hồn ca I gồm 472 câu [1] thơ song thất lục bát, xếp vào 12 đoạn.

Trong đoạn đầu, sau khi nêu quá khứ vẻ vang oanh liệt của dân tộc Việt, tiếp đến là chỉ trích lỗi lầm của người trên kẻ dưới đã làm cho nước nhà lụn bại. Từ đó, tác giả đặt vấn đề: phải học tập theo người Âu, người Mỹ (nội dung của 11 đoạn sau).
Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tác giả đã so sánh nhiều phương diện về dân khí dân trí của các nước văn minh trên thế giới với dân tình của nước Việt đại để như sau:
1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10.Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v...

Nhìn chung, tác phẩm cổ vũ một sự cách tân xã hội theo chiều hướng dân chủ tư sản, và đối tượng kêu gọi là tầng lớp trung lưu và thượng lưu lúc bấy giờ. Cùng với các bài hiệu triệu khác, Tỉnh quốc hồn ca I đã góp phần không nhỏ vào công cuộc canh tân tự phát của nhân dân (tức phong trào Duy Tân) vào đầu thế kỷ 20.

II. Tỉnh quốc hồn ca II:
Phan Châu Trinh viết Tỉnh quốc hồn ca II vào khoảng năm 1922 khi đang lưu vong tại Pháp, trong bối cảnh còn nóng nổi những vấn đề thời sự; như việc giải ngũ và hồi hương những người lính mộ ở Đông Dương, cuộc ngự du sang Pháp của vua Khải Định (tháng 5, 1922)...

Buổi đầu tác phẩm chỉ được lưu truyền bằng chép tay, mãi đến năm 1925, tờ Việt Nam hồn mới đăng trọn bài, và sau đó được bí mật gửi về nước. Tháng 1 năm 1927, Tỉnh quốc hồn ca II được tờ Tân Thế kỷ cho đăng, nhưng bị sở Kiệm duyệt lúc bấy giờ cắt bỏ chỉ còn 310 câu.

Theo bản chép tay của bà Phan Thị Châu Liên (con gái Phan Châu Trinh), sau được in trong Thơ văn Phan Bội Châu, thì Tỉnh quốc hồn ca II gồm 480 [2] câu thơ song thất lục bát, được phân thành 5 đoạn, có đại ý như sau:

- Đoạn mở đầu, nhắc lại quá khứ oai hùng của dân tộc Việt, đồng thời phê phán nhà Nguyễn đã nhắm mắt bắt chước luật pháp, khoa cử của nhà Thanh (Trung Quốc), đẻ ra một bộ máy cầm quyền hủ bại dẫn đến nước mất về tay thực dân Pháp.
- Đoạn 2 nhấn mạnh sự hy sinh xương máu và tiền của của người Việt giúp nước Pháp trong Thế chiến I; nhưng lại bị nước Pháp đối đãi tệ bạc, lừa bịp, vắt chanh bỏ vỏ, tăng sưu thuế, giám sát và vơ vét cả khi người Việt đi lính trở về.
- Đoạn 3, công kích thực dân Pháp đầu độc dân Việt bằng thuốc phiện và rượu, đánh nhiều loại thuế vô lý, bắt bớ giam cầm người yêu nước, và cho lưu hành những thứ báo chí vô bổ trong khi cấm đoán sách báo tiến bộ.
- Đoạn 4, ngay ở chính quốc nhà nước Pháp cũng lập những tổ chức đàn áp Việt kiều, bày trò triển lãm, đưa các đoàn đại biểu sang Pháp “đóng tuồng”, làm nhục quốc thể và hoang phí tiền của dân Việt.
- Đoạn cuối, phê phán hạng trí thức người việt chỉ biết “nương hơi dựa bóng” làm cho người ta đi sai đường, lạc lối; và kêu gọi một sự hợp tác Pháp-Việt thực lòng, cũng như một chính sách tự trị cho Việt Nam.
Phần có giá trị lâu dài, là phần phê phán và tố cáo các hạng người trên, chiếm đến 80% chiều dài của tác phẩm.

*
So sánh, nếu "Tỉnh quốc hồn ca I", Phan Châu Trinh có thể dùng lời lẽ bốp chát thoải mái; thì đến "Tỉnh quốc hồn ca II", đối tượng phê phán thay đổi, phải đối thoại trực tiếp với kẻ nắm quyền lực là nhà cầm quyền Pháp, nghệ thuật phê phán của ông cũng thay đổi. Không thể chỉ mặt vạch tên đối tượng bằng cách nói sỗ sàng, ngôn từ thông tục vốn là ưu thế của giọng thơ châm chích của ông được cân nhắc giảm thiểu, những câu chữ góc cạnh bị tước bớt, lời thơ có vẻ chừng mực, chỉn chu hơn. Thế nhưng nhìn cho kỹ, ở hai bài này vẫn giữ được ngữ khí của riêng ông...

III. Trích tác phẩm:
3.1 Tỉnh quốc hồn ca I:
Sau khi nêu quá khứ vẻ vang oanh liệt của dân tộc Việt, tiếp đến là chỉ trích lỗi lầm của người trên kẻ dưới đã làm cho nước nhà lụn bại. Trích giới thiệu một số câu:
...Người khanh tướng kẻ tấn thân [3]
Trăm nghề, hỏi có trong thân nghề nào?
Chẳng qua là quơ quào ba chữ,
May ra rồi ăn xớ [4] của dân.
Khoe khoang rộng áo dài quần,
Tráp giày bệ vệ, rần rần ngựa xe.
Còn bậc dưới ngo ngoe vô kể,
Học cúi luồn kiếm thế vơ quào.
Thầy tư lại, bác kỳ hào,
Gặm xương, mút đũa lao nhao như ruồi.
Lại có kẻ lôi thôi bậc giữa,
Trên lỡ quan, dưới nữa lỡ dân.
Ấy là học sĩ văn nhân,
Ăn sung mặc sướng mà thân không làm.
Người trên đã lam nham như thế,
Những dân ngu sá kể làm chi.
Rượu chè cờ bạc li bì,
Sinh ra trộm cướp, nghề gì mà mong?...
...Người ta chẳng tưởng mơ quyền tước,
Làm quan cốt giúp nước giúp dân.
Những ai khanh tướng công thần,
Ai ai cũng phải lấy dân làm nề.
Nào là kẻ đủ bề tài trí,
Nào là người cả chí kinh luân,
Tiếng khen khắp cả xa gần,
Trong khi tuyển cử thì dân nó bầu.
Chẳng hể phải lòn sau cúi trước,
Cũng chư hề chạy ngược chạy xuôi.
Đến khi được chức lên ngôi,
Dẫu quan quyền nước, thực tôi dân nhà...
...Ấy cũng là một gương tỏ rõ,
Để cho ta thử đọ mà coi.
Người mình không đức không tài,
Ham quan ham tước chen vai cúi đầu.
Cửa quyền môn mai chầu tối chực,
Đua chen nhau rạo rực như sôi.
Cửa tiền cửa hậu lăn vùi,
Cùng ra đến giậu chó chui cũng lòn.
Mình được rồi lo con lo cháu,
Lạ làng thay cái máu tham quan.
...Dân nghèo nước khó mặc lòng,
Cốt mình giữ đặng trong vòng ấm no...
...Nghĩ mình thua sút muôn phần,
Anh em ta phải đua chân mới là.

3.2 Tỉnh quốc hồn ca II:
Tương tự như Tỉnh quốc hồn ca I, sau khi nhắc lại quá khứ oai hùng của dân tộc Việt, tác giả bắt đầu phê phán, trích một số câu:
...Hiềm vì nỗi học hành sai lối,
Thóc vứt đi, rơm bổi quơ về.
Sai lầm từ thuở nhà Lê,
Bước qua nhà Nguyễn sa bê lần lần.
Pháp luật đủ mười phần thao thiết,
Mượn của người [5] chẳng biết nghĩ xa,
Người dùng độc thuốc người ta,
Mình đem về để thuốc bà thuốc con.
Cấm chẳng được hỏi đon việc nước,
Cấm chẳng cho ao ước thở than.
Thi văn ba họ hàm oan,
Công thần như thế ai còn hở môi?
Người cương trực lo lui bước trước,
Lũ nịnh thần lần lượt đầy sân,
Vua tôn như thánh như thần,
Phận tôi rơm rác, thần dân trâu bò...
...Pháp luật thế, học cùng như thế
Mấy trăm năm lưu tệ đến đâu!
Vua ngồi thăm thẳm cung sâu,
Một đời chỉ biết đè đầu dân đen.
Dưới đại thần đua chen tước lộc,
Ngoài trăm quan hì hục thân danh,
Cúi lòn đút lót đủ vành,
Làm quan cốt để rán sành dân ngu.
Thói tham lam nhuộm sâu đến tủy,
Máu ham quan như đĩ ham tiền,
Đua tranh những việc nhãn tiền,
Biết đâu nghĩa vụ, công quyền là đâu!...
...Trên vua đã lờ mờ như ngủ,
Ngày trót đêm vịnh phú ngâm thi,
Bá quan văn võ biết chi,
Trung thành chỉ có lạy qùi mà thôi.
Đánh cũng chết, hòa rồi cũng chết,
Bốn mươi năm gió quét sạch không!
Ông cha gầy dựng non sông,
Mà nay nông nổi, đau lòng xiết bao!
Song những kẻ lo sâu nghĩ kỹ,
Mình xét mình ngẫm nghĩ mà coi:
Nên hư chẳng bởi người ngoài,
Xưa nay thịt thúi, thì giòi mới sinh!
Vậy những nỗi bất bình để đó,
Quyết theo thầy gắng gổ học hành,
Đừng điều yêu chuộng hư danh,
Phải lo việc thực mới thành đặng công...
Sau đó, tác giả mơ ước:

...Ước chánh trị ngày rộng rãi,
Dắt ta theo vào cõi văn minh,
Hiến chương pháp luật ban hành,
Nói năng nghĩ ngợi thỏa tình tự do.
Ước học hành mở cho xứng đáng,
Đừng vẽ hình vẽ dạng cho qua,
Công thương kỹ nghệ chuyên khoa,
Trí tri cách vật cho ta theo cùng,
Cuộc điều dưỡng mở trong dân sự,
Nẻo giao thông tứ xứ sơn lâm,
Làm cho ba tánh yên tâm,
Làm cho kinh tế càng năm càng giàu...

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Theo Huỳnh Lý - Hoàng Ngọc Phách, Thơ văn Phan Châu Trinh, tr. 127.
^ GS. Huỳnh Lý trong Từ điển văn học (bộ mới, tr. 1736) ghi 469 câu. GS. Nguyễn Huệ Chi trong bài "Tỉnh quốc hồn ca và ngữ khí phê phán của Phan Châu Trinh" ghi 467 câu, và cho biết rằng: "rất có thể tác phẩm đã được Đông Kinh nghĩa thục ấn hành, nhưng chưa tìm thấy bản lưu; về sau, khi sang Pháp, Phan Châu Trinh có chép lại, tu chỉnh lại, và thêm một vài phần cuối nhưng chưa xong". Đương thời, Tỉnh quốc hồn ca I chỉ được chép tay và truyền miệng, nên việc sai lệch số câu (và khác một số chữ) là điều khó tránh khỏi.
[2] GS. Nguyễn Huệ Chi ghi khoảng 500 câu.
[3] Tấn: lụa đỏ, thân: cái giải to, cái ống tay áo thụng. Kẻ tấn thân ở đây chỉ người làm sang hay bậc thượng lưu.
[4] Ăn xớ hay ăn xới (tiếng địa phương), có nghĩa ăn bớt trước khi đưa đến tay dân.
[5] Người ở đây chỉ nhà nước phong kiến Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo:
-Nguyễn Huệ Chi, bài viết "Tỉnh quốc hồn ca và ngữ khí phê phán của Phan Châu Trinh" (bản điện tử: [2]
-Huỳnh Lý, mục từ "Tỉnh quốc hồn ca" trong Từ điển văn học (bộ mớ). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Huỳnh Lý - Hoàng Ngọc Phách, Thơ văn Phan Châu Trinh. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1983..

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Vũ Trinh với Lan Trì kiến văn lục


Vũ Trinh (1759 - 1828), tự Duy Chu, hiệu Lai Sơn, Nguyên Hanh và Lan Trì Ngư Giả; là nhà văn ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.

I. Tiểu sử:
Vũ Trinh là người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).

Xuất thân trong một gia đình quan lại trí thức, ông nội Vũ Trinh là Vũ Hy Nghi đậu Tiến sĩ đời Lê, làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh; và cha ông là Vũ Thiều đậu Hương cống (Cử nhân), làm quan đến chức Tham Nghị.

Năm 17 tuổi, Vũ Trinh thi đỗ Hương tiến (Cử nhân), được bổ làm Tri phủ Quốc Oai (nay thuộc Hà Nội).

Năm 1787, sau khi Lê Chiêu Thống lên ngôi vua, ông được triệu về triều. Cũng trong năm này, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm kéo quân ra Bắc Hà đánh dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh, khi ấy, Vũ Trinh và cha đã bán hết gia sản để chu cấp việc quân và giúp vua Lê chạy nạn.
Đến cuối năm sau (1788), nhờ quân Thanh (Trung Quốc) vua Lê Chiêu Thống về lại Thăng Long, Vũ Trinh được gọi vào triều giữ chức Tham tri chính sự.

Đầu năm 1789, vua nhà Tây Sơn là Quang Trung đem đại binh ra Bắc đánh tan quân đội nhà Thanh. Vua Lê Chiêu Thống lại phải chạy sang nhà Thanh cầu viện. Không thể theo được, Vũ Trinh trở về ẩn thân tại Hồ Sơn (thuộc Nam Định ngày nay). Tại đây, ông vừa dạy học vừa thu thập tài liệu để viết nên tập truyện Lan Trì kiến văn lục (Chép những truyện thấy và nghe của Lan Trì).

Năm 1802, sau khi nhà Tây Sơn bị đánh đổ, Vũ Trinh được nhà Nguyễn mời ra nhận chức Thị trung học sĩ tại triều (Phú Xuân, tức Huế ngày nay).

Năm 1804, nhân việc đưa hài cốt vua lê Chiêu Thống về nước, ông xin từ quan nhưng không được chấp thuận.

Năm 1807, Vũ Trinh được cử làm Giám thị trường thi Sơn Tây.
Năm 1809, ông được cử đi sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) dâng lễ cống. Trên đường đi, ông viết Sứ Yên thi tập (Tập thơ đi sứ Yên Kinh), nhưng nay đã thất lạc.
Trở về nước, ông nhận lệnh hiệp cùng Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành và Trần Hựu soạn bộ Hoàng Việt luật lệ. Biết ông có tài, Tổng trấn Thành cho con là Nguyễn Văn Thuyên theo học ông.

Năm 1813, ông được thăng Hữu tham tri bộ Hình. Cũng trong năm này, ông được cử đi làm Giám thị trường thi Quảng Đức [1].

Năm 1816, có người tố cáo Nguyễn Văn Tuyên làm thơ có ý phản nghịch. Vì là thầy dạy Tuyên, Vũ Trinh bị triệu vào triều. Mặc dù ông cố bênh vực học trò, Tuyên vẫn không khỏi tội. Chẳng những vậy, ông còn bị lột hết phẩm hàm và bị đày vào Quảng Nam.

Sau 12 năm, Vũ Trinh được ân xá, nhưng trở về quê nhà được vài hôm thì mất (1828), thọ 69 tuổi.

Vợ Vũ Trinh là con gái Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du).

Tác phẩm của Vũ Trinh, có:
-Lan Trì kiến văn lục (còn gọi là Lan Trì văn lục), gồm 45 truyện viết bằng chữ Hán.
-Sứ Yên thi tập (thơ chữ Hán, đã thất lạc).
-Ngô tộc truy viễn đàn ký, viết về họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai.

Tương truyền, ông còn có tập Cung oán thi (Thơ về nỗi oán của người cung nữ). Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Bùi Hạnh Cẩn, thì tác giả tập thơ này là Nguyễn Huy Lượng.

II. Giới thiệu sơ lược Lan Trì kiến văn lục:
Như đã nói trên, sau khi vua Quang Trung đánh tan quân đội nhà Thanh vào đầu năm 1789, Vũ Trinh về ẩn cư tại Hồ Sơn (Nam Định), và làm ra tập truyện Lan Trì kiến văn lục.

Tác phẩm gồm 3 quyển, tổng cộng 45 thiên (truyện), hiện còn bản chép tay tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) mang ký hiệu VHv. 1401.
Đây là một tập truyện truyền kỳ, bao gồm nhiều đề tài khác nhau: chuyện tình giữa nam và nữ, chuyện giáo dục thi cử, chuyện báo ứng luân hồi, chuyện kỳ quái,...Phần lớn chúng được sáng tác trên cơ sở những truyền thuyết lưu hành trong dân gian lúc bấy giờ.

Năm 2004, bản dịch Lan Trì kiến văn lục của Hoàng Văn Lâu đã được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành.

*
Cũng như Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án; Lan Trì kiến văn lục tiếp nối dòng truyện truyền kỳ, bắt đầu từ thế kỷ 16 với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ...Và có thể nói, theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Na, thì đây là tác phẩm cuối cùng của loại hình truyền kỳ Việt Nam thời trung đại.

Đề cập đến nét nổi bật của tác phẩm, GS. Nguyễn Huệ Chi viết:
...Bên cạnh những con người hoang dâm, lạm dụng uy quyền (Hầu - Đười ươi), những kẻ giết con (Hiệp hổ - Hổ nghĩa hiệp), giết vợ (Tái sinh - Sống lại)...; là những con người có những phẩm chất cao quý, nhất là ở giới phụ nữ. Một ca kỹ có nhân cách với một tình yêu đầy chủ động (Nguyễn ca kỹ - Ca kỹ họ Nguyễn), một người con gái (con của phú ông) mang mối tình thủy chung nhưng oan trái đến bạc mệnh (Thanh Trì tình trái - Nợ tình ở Thanh Trì), một người đàn bà dệt vải có chồng vẫn khao khát yêu đương (Tái sinh - Sống lại), một thiếu nữ nghèo mắc bệnh nan y vẫn sống hết mình cho tình yêu (Báo Ân tháp - Tháp Báo Ân), v.v...Về những con người này, ngòi bút của tác giả luôn tỏ ra trân trọng, và yêu mến lạ thường…
Nhìn chung, tác giả khá nhạy bén với cái mới. Tình yêu trong truyện của ông thường say đắm, và đôi khi đi tới mức nhục cảm (Báo Ân tháp)...(Từ điển văn học, bộ mới, tr. 2034).

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
[1] Dinh Quảng Đức được đặt vào năm Tân Dậu (1801) đời vua Gia Long, gồm ba huyện trước đây thuộc phủ Triệu Phong đó là Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang (theo Đại Nam dư đi chí ước biên do Cao Xuân Dục làm Chủ biên. Bản dịch do nhà xuất bản Văn học ấn hành, 2003, tr. 178).

Sách tham khảo:
-Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2003.
-Nguyễn Huệ Chi, mục từ “Vũ Trinh” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
-Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Thiền sư Thường Chiếu

Thiền sư Thường Chiếu là người họ Phạm (không rõ tên), sinh ra ở làng Phù Ninh, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ.

Khi chưa xuất gia, ông đã từng giữ chức Lệnh đô tào ở cung Quảng Từ dưới triều vua Lý Cao Tông (ở ngôi: 1176-1210).

Sau đó, ông từ quan đi xuất gia theo học với Thiền sư Quảng Nghiêm (1122-1190, thuộc đời thứ 11 thiền phái Vô Ngôn Thông) ở chùa Tịnh Quả.

Khi được tâm truyền của thầy, Thiền sư Thiền Chiếu ở lại thêm vài ba năm để hầu thầy, rồi mới lui về một ngôi chùa cổ ở làng Ông Mạc (Bắc Ninh) để trú trì và dạy môn đồ.

Ít lâu sau, Thiền sư Thường Chiếu lại dời sang trú trì tại chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng (Bắc Ninh), vốn là một tổ đường rất xưa của thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi]. Ở đây, ngoài việc dạy cho số môn đồ ngày càng đông đảo, Thiền sư Thường Chiếu còn bổ túc cho tập sử liệu Phật giáo do Thiền sư Thông Biện để lại, mà sau này sẽ trở thành cuốn Thiền Uyển Tập Anh.

Ngày 24 tháng 9 (âm lịch) năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ 2 (1203) đời Lý Cao Tông, Thiền sư Thường Chiếu cho hay mình đau, nhóm chúng nói kệ, rồi ngồi kiết già viên tịch. Sau đó, các đệ tử làm lễ hỏa táng thầy, đưa vào tháp để tôn thờ.

Bài kệ trước khi Thiền sư Tường Chiếu viên tịch như sau:
Phiên âm Hán-Việt:
Đạo bổn vô nhan sắc
Tân tiên nhật nhật khoa
Đại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia.

Nghĩa là:
Đạo vốn không màu sắc
Ngày ngày lại mới tươi
Ngoài đại thiên sa giới
Đâu chẳng phải nhà ngươi.

 Tác phẩm của Thiền sư Thường Chiếu để lại có:
-Thích đạo khoa giáo
-Nam tông tự pháp đồ, viết về sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam, nhưng đã thất lạc.

Thiền sư Thường Chiếu có ba người đệ tử nổi bật, đó là: Hiện Quang (là người sẽ khai sơn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần), Thần Nghi (là người được thầy trao lại các tập sử liệu Phật giáo), và Thông Thiền (hay Thông Sư. Ông chỉ là cư sĩ, nhưng sau đào tạo được Thiền sư Tức Lự).

*
Ngoài công xiển dương và truyền dạy giáo lý Phật giáo cho tăng chúng, Thiền sư còn có công thống nhất ba thiền phái lúc bấy giờ.

Theo sử liệu thì vào cuối đời Lý, thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã mất dần ảnh hưởng. Vì vậy, người của phái này đã mời Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông sang làm trú trì chùa Lục Tổ, là một ngôi tổ đường lớn của thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Tuy nhiên, nhờ ở nơi ấy, mà Thiền sư Thường Chiếu đã thu thập được nhiều tài liệu để bổ túc cho tập sử liệu do thiền sư Thông Biện để lại, mà sau này sẽ trở thành cuốn Thiền Uyển Tập Anh. Và đó cũng là cơ hội để Thiền sư góp công làm cho phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và phái thiền Vô Ngôn Thông hòa nhập làm một.

Theo GS. Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), Thiền sư Thường Chiếu có thể gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, và cũng là gạch nối giữa Phật giáo đời Lý và Phật giáo đời Trần. Nói cách khác, Thiền sư chính là gạch nối giữa nền Phật giáo “ba tông phái” với nền Phật giáo “một tông phái” (đời Trần chỉ còn một tông phái là Trúc Lâm Yên Tử).

Hiện Pháp danh Thường Chiếu của Thiền sư đã được đặt cho một ngôi thiền viện lớn ở tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Người có công tạo lập ra trung tâm tu học này là Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo chính:
 -GS. Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1). Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1992.
-T.T Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1992.
-T.T Thích Minh Tuệ, Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1993.
-GS. Trần Văn Giáp, "Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ 13" in trong Nhà sử học Trần Văn Giáp. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996.
-Khuyết danh, Thiền uyển tập anh (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch). Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Mâu Tử và Lý Hoặc Luận

 Mâu Tử tên thật là Mâu Bác, sinh vào khoảng những năm 165-170, và mất năm nào không rõ. Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì ông là một trong số ít người đầu tiên ở nước ngoài đến Giao Châu (vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay [1]) tu học và khai truyền đạo Phật tại đây vào cuối thế kỷ 2 đến đầu thế kỷ 3.

I. Tiểu sử:
Mâu Tử là người ở quận Thương Ngô (Ngô Châu ngày nay), bên dòng Tây Giang, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc.

Lúc trẻ, ông đã nổi danh là người học rộng, đọc nhiều, giỏi biện bác và có đầu óc phê phán....Trong bài Tựa ở sách Lý Hoặc Luận (đều do ông viết) có đoạn (dịch từ chữ Hán):
Mâu Tử tôi đối với kinh truyện và chư gia, sách lớn sách nhỏ không sách nào không mê. Tuy không thích binh pháp, nhưng cũng đọc sách binh pháp. Tuy đọc sách thần tiên bất tử nhưng không tin thần tiên bất tử, (bởi) đó là chuyện hư đản.

Và cũng nhờ bài Tựa này mà người ta biết được đôi điều về ông, trích:
Sau khi vua Hán Linh Đế qua đời năm 189, cả nước Trung Quốc lâm vào cảnh loạn lạc (nạn Tam Quốc), chỉ có Giao Châu do Thái thú Sĩ Nhiếp cầm quyền là được yên. Cho nên lúc bấy giờ số người chạy loạn từ phương Bắc xuống đó khá đông, trong số này có mẹ con Mâu Tử (khoảng năm 194).
Mâu Tử được mới làm quan hai lần, nhưng ông đều chối từ. Trích bài Tựa:
Thái thú (Sĩ Nhiếp) nghe có chút học thức, tới mời nhận một chức vụ. Hồi đó tuổi vừa lớn, lòng chuyên về việc học, lại thấy đời loạn lạc không có ý muốn ra làm quan, cho nên tôi từ chối không đến ...

Ở một đoạn khác, Mâu Tử lại viết:
Thái thú (Sĩ Nhiếp) thấy tôi học biết nhiều, muốn nhờ đi Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng quyền tước vinh hoa thì dễ từ, nhưng sứ mạng thì khó từ chối, cho nên đã chuẩn bị để đi. Gặp lúc đó vị châu mục [Chu Phù] cảm tài học, thấy chưa có chức phận liền muốn giao cho một quan chức, nhưng tôi muốn cáo bệnh không đi, (bất ngờ) người em của châu mục là thái thú Dự Chương [Chu Hộc] bị viên tướng tải lương là Trách Dung sát hại...Châu mục liền mời Mâu Tử tới nhờ đi Linh Lăng và Quế Dương... Mâu tử nói: "Lâu nay ăn cơm của các châu quận, ngày tri ngộ đã dài, nay gặp việc cần, kẻ liệt sĩ phải quên thân mình để lo phụng sự". Liền chuẩn bị lên đường. Nhưng lúc ấy mẹ mất, không thể đi được. Sau suy nghĩ chín chắn cho rằng vì tài biện đối mà người ta giao cho sứ mạng, thực ra trong thời buổi nhiễu nhương này, không phải lúc nên lộ diện...

Mâu Tử vốn là người thông hiểu Đạo Lão và Đạo Nho, nhưng sau di cư đến Luy Lâu (thủ phủ của Giao Châu), ông đã gặp Đạo Phật ở đây. Sau khi mẹ mất, theo bài Tựa, thì ông bèn “mài chí theo Đạo Phật, cùng nghiên cứu Lão Tử, lấy huyền diệu làm rượu ngon, lấy Ngũ kinh (của Nho giáo) làm đàn sáo...Người thế tục đa số không biết, cho rằng Mâu Tử đã phản Ngũ kinh mà theo dị đạo...Thực ra nếu mở miệng ra tranh luận với họ thì cũng là phi đạo, mà im lặng thì ra như bất lực, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ. Do đó gọi là "Mâu Tử Lý Hoặc Luận" (gọi tắt là Lý Hoặc Luận).

II. Ngộ nhận và nghi vấn:
Cũng theo GS. Nguyễn Tài Thư thì sách Tùy chí đã chép sai khi cho rằng Mâu Tử là Thái úy Mâu Dung, tự Tử Du, sống dưới thời Hán Chương Đế (trị vì từ năm 75 đến 88); bởi Mâu Tử sống dưới thời Hán Linh Đế (trị vì từ năm 168 đến 189). Sách Tùy chí và sách Hoàng Minh tập cũng chép sai khi cho rằng Mâu Tử chịu nhận chức quan, bởi bài Tựa do chính tay ông viết đã nói rõ điều này.

Theo GS. Nguyễn Lang, cái tên Mâu Tử hay Mâu Bác có thể là một pháp danh, bởi Mâu có thể là lấy từ Mâu Ni. Ðoạn kết của Lý Hoặc Luận cho ta cảm tưởng lúc này Mâu Tử đã là một Sa Môn (tức là người đã xuất gia), bởi người đối thoại với ông sau khi được thuyết phục, đã lạy ông và "xin thọ ngũ giới làm ưu bà tắc"[2].

III. Lý Hoặc Luận:
Lý Hoặc Luận có nghĩa là “bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật”, do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viết bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ 2 nhưng năm nào thì chưa rõ [3].

Trong (hoặc sau) quá trình tu học và truyền giáo tại Giao Châu, Mâu Tử viết Lý Hoặc Luận. Đây là cuốn sách đầu tiên viết về Đạo Phật bằng chữ Hán theo lối vấn đáp, là lối thường được các luận sư Phật giáo ở Ấn Độ dùng để truyền bá giáo lý vào thời kỳ Phật giáo bộ phái, tức vào khoảng 200 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết-bàn.

Trong bài Tựa sách Lý Hoặc Luận, Mâu Tử cho biết "sau khi vua Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Châu là yên ổn, các bậc dị nhân phương Bắc đều tới đây, phần lớn đều tin theo thuật thần tiên tịch cốc trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử (lúc này đã sang Giao Châu cùng mẹ) thường lấy Ngũ kinh ra vấn nạn, các Đạo gia và thuật sĩ không ai đối đáp cho xuôi được"...Để không bị chê là người “đã phản lại Ngũ kinh mà theo dị đạo”, và để không phải tranh luận với họ nữa, vì "nếu mở miệng thì cũng là phi đạo, mà im lặng thì ra như bất lực", Mâu Tử "bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ chứng giải điều mình nghĩ” làm ra sách Lý Hoặc Luận.

Cuốn Lý Hoặc Luận gồm 37 câu hỏi đáp, giữa tác giả và những người theo Đạo Nho (chủ yếu) và Đạo Lão (số câu ít hơn, chỉ từ câu 29 trở đi). Đại lược như sau:
-Câu hỏi 1 và 2: Hỏi về lai lịch Phật Thích Ca. Theo Mâu Tử, đây không phải là một nhân vật lịch sử thường tình, mà là một bậc siêu nhân, có thần thông biến hóa.
-Câu 3 và 4: Hỏi về đạo trong Đạo Phật. Theo Mâu Tử, tính sâu xa và huyền diệu của Đạo không thể nào lấy suy tư và ngôn ngữ thế gian để soi thấu được.
-Câu 5: Hỏi đáp về số lượng kinh sách Đạo Phật. Người hỏi cho rằng Kinh Phật quá nhiều làm sao học hết được, không như Đạo Nho chỉ có Tứ thư và Ngũ kinh.
-Câu 6, 7, 8, 9 và 10: Trong phần trả lời, Mâu Tử bài bác tư tưởng hẹp hòi, câu nệ của Đạo Nho. Người tăng sĩ cạo bỏ râu tóc, xa lìa vợ con, bỏ tài sản...có nghĩa là bỏ cái sinh diệt để được cái bất diệt. Đạo Nho cho rằng không con thừa kế là tội bất hiếu lớn nhất là không đúng, bởi hiếu đạo không phải chỉ có việc này.
-Câu 11 và 12: Hỏi đáp về cách ăn mặc, ứng xử của tăng sĩ ở Giao Châu thời đó. Theo Mâu Tử, người tu hành không được ăn mặc theo các tập quán sang trọng của thế gian. Ăn, mặc và ngủ nghỉ đều phải không đầy đủ, bởi có tri túc thường túc mới có phẩm hạnh cao dày. Khi giao tiếp, tăng sĩ không quỳ, không tỏ vẻ săn đón (câu 11 cho biết tăng sĩ lúc bấy giờ mặc áo màu đỏ và quy tắc ứng xử cũng theo quy cách của tăng sĩ Ấn Độ).
-Câu 13 và 14: Hỏi đáp về thuyết tái sinh của Đạo Phật. Trong câu 14, Mâu Tử phê phán tư tưởng "Đại Hán" trong giới Nho sĩ. Bởi họ luôn cho học thuyết của đạo mình là chân lý tuyệt đối, là siêu việt.
-Câu 15 và 16: Trong phần trả lời, Mâu Tử nêu tư tưởng “y pháp không y nhân” (theo pháp không theo người). Không vì một số tăng sĩ mê rượu chè, có vợ con, mua rẻ bán đắt, dối trá...mà cho Đạo Phật là xấu, vì đạo nào chẳng có hạng người này.
-Câu 17, 18, 19 và 20: Mâu Tử trả lời về các vấn đề như hạnh bố thí, lối thuyết giảng trong Kinh Phật hay dùng ví dụ, hình ảnh...
-Câu 21: Mâu Tử xác định Phật giáo du nhập Giao Châu cùng lúc với Phật giáo du nhập vào đất Trung Quốc (đời Hán Minh Đế, năm 67).
-Câu 22 đến câu 28: Trong phần trả lời, Mâu Tử so sánh Đạo Phật với Đạo Nho và Đạo Lão. Theo ông, Đạo Phật là mặt trời, là quả thơm ngon.
-Câu 29 đến câu 37 (là các câu hỏi đáp giữa tác giả và người đại diện Lão giáo): Trong phần trả lời, Mâu Tử cho rằng các phép thanh đàm, tịch cốc, luyện phép trường sinh...đều do các đạo gia đời sau bày đặt ra. Lão Tử không chủ trương như thế, vì trong sách của ông có câu: "Trời đất còn không tồn tại lâu dài, huống chi là con người".
Cuối sách, người hỏi không có gì thắc mắc nữa, khen ngợi Mâu Tử đã giải đáp đầy đủ về những điều họ chưa nghe bao giờ. Sau đó, người hỏi xin quy y theo Đạo Phật.

Sau khi ra đời, Lý Hoặc Luận dần trở nên nổi tiếng. Đến thế kỷ 6, sách đã có mặt trong bộ Hoằng Minh tập do Tăng Hựu sưu tầm và khắc in. Trong Tùy chí và Đường chí, Lý Hoặc Luận cũng đã được nhắc đến.

Mấy thế kỷ gần đây, Lý Hoặc Luận càng được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn, trong đó có Tôn Di Nhương, Chu Thúc Da, Từ Gia Tích, Hồ Thích, Lương Khải Siêu, Lã Sĩ Bằng (đều là người Trung Quốc), Paul Pelliot, Henri Maspéro (đều là người Pháp), Fukui Kojien, Mastsumoto Bunzaburo (đều là người Nhật Bản), Nguyễn Lang (TS. Thích Nhất Hạnh), Trần Văn Giáp, Nguyễn Đăng Thục, Lê Mạnh Thát (đều là người Việt), v.v...

Và tất cả có một điểm chung là nhờ Lý Hoặc Luận, người đời sau biết được khá rõ tư tưởng, tín ngưỡng, tình trạng Phật giáo Giao Châu và đôi điều về bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.
Chú thích:
[1] Ban đầu, Giao Châu còn bao gồm một phần đất Quảng Tây và Quảng Đông thuộc Trung Quốc) ngày nay.
[2] Ưu-bà-tắc (phiên âm từ tiếng Phạn), chỉ nam tu tại gia đã thọ ngũ giới. Nếu là người nữ thì gọi là Ưu-bà-di. Người Việt hay gọi đây là cư sĩ, là thiện nam hay tín nữ.
 [3] Mặc dù còn có một vài ý kiến khác, nhưng một số tác giả, trong đó có Hồ Thích, Pelliot, Nguyễn Lang,...đều đồng ý rằng bài Tựa và phần chính tác phẩm Lý Hoặc Luận được sáng tác vào cuối thế kỷ 2. Nhưng sau đó có người sửa chữa thêm thắt khiến bản văn có đôi chỗ mang ngữ phong của thế kỷ 3 và thế kỷ 5 (xem chi tiết trong Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1, tr. 56) của GS. Nguyễn Lang.
Cũng không rõ Mâu Tử khởi soạn và hoàn thành Lý Hoặc Luận ở Giao Châu hay ở Trung Quốc, nhưng theo bài Tựa (nếu không bị người đời sau thêm bớt hay sửa chữa) thì chắc là tại Thương Ngô, bởi trong đó có câu: “Trước kia Mâu Tử cùng mẹ tới tỵ nạn ở Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô cưới vợ”, tức là kể sự việc đã xảy ra rồi.

Sách tham khảo chính:
-Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1). Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1992.
-Thích Minh Tuệ, Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1993.
-Trần Văn Giáp, "Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ 13" in trong Nhà sử học Trần Văn Giáp. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996.
-Nguyễn Tài Thư (chủ biên),Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
-Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Tập 3). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Ni sư đời Lý: Diệu Nhân (1042-1113)


Diệu Nhân (1042 [1]-1113), là Công chúa nhà Lý; và sau khi xuất gia, bà là người đứng đầu thế hệ thứ 17 của thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi thời nhà Lý trong lịch sử Việt Nam.

I.Tiểu sử:
Thiền sư (hay ni sư, sư bà) Diệu Nhân trước khi xuất gia có tên là Lý Ngọc Kiều hay Lý Thị Ngọc Kiều. Bà là con gái lớn của Phụng Càn vương Lý Nhật Trung (con vua Lý Thái Tông).

Thuở nhỏ, bà được vua Lý Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên được phong làm Công chúa. Khoảng năm 1058, bà được nhà vua gả cho châu mục Chân Đăng [2] họ Lê (không rõ tên). Chồng mất, bà tự nguyện thủ tiết không chịu tái giá.

Theo thiền sử, thì một hôm bà than rằng: "Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn phù vinh có thể nương tựa được sao?". Sau đó, bà đem cho hết các đồ trang sức, đến xin xuất gia (thọ Bồ-tát giới) với Thiền sư Chân Không tại làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội).

Thuận theo thỉnh nguyện của bà, nhà sư Chân Không xuống tóc cho, ban hiệu là Diệu Nhân và cho phép bà tu học tại ni viện Hương Hải ở làng Phù Đổng.

Hằng ngày, ni sư Diệu Nhân gìn giữ giới luật và hành thiền, được tăng chúng thời bấy giờ xem trọng. Theo thiền sử, thì bà là người đứng đầu thế hệ thứ 17 của thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi thời nhà Lý.

Ngày mùng 1 tháng 6 năm Hội Tường Ðại Khánh năm thứ 4 (1113), đời vua Lý Nhân Tông, ni sư Diệu Nhân cáo bệnh, nói kệ thị tịch. Sau đó, ni sư gội tóc, tắm rửa, ngồi kiết già mà tịch, thọ 72 tuổi.

Cuộc đời của ni sư Diệu Nhân, đã được sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép lại như sau:
Quý Tỵ, [Hội Tường Đại Khánh] năm thứ 4 [1113]...Mùa hạ, tháng 6, phu nhân của châu mục Châu Đăng là công chúa họ Lý mất. Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn vương, được (vua) Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm công chúa, gả cho châu mục Châu Chân Đăng là người họ Lê, chồng chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. (Vua) Thần Tông tôn làm Ni sư (Tập 1, bản dịch, tr.300) .

II. Yếu lý và kệ thị tịch:
Những năm tu hành tại ni viện Hương Hải, những ai muốn cầu học, ni sư Diệu Nhân thường đem tâm yếu Đại thừa ra chỉ dẫn và dạy rằng: Chỉ trở về nguồn tự tính thì dù phương pháp "đốn” (tức khắc) hay “tiệm" (từ từ) đều có thể từ đó mà thể nhập. Hãy luôn tĩnh lặng trong sạch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ.
Ni sư cũng từng bộ bạch với học trò rằng Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn quá trình tu tập của bà.

Khi có người hỏi về một câu trong Kinh Duy Ma Cật: Tất cả chúng sinh bệnh, nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?

Ni sư đáp rằng:
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.

Có nghĩa là:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.

Lại hỏi: "Sao gọi là ngồi yên?". Ni sư đáp: "Xưa nay không đi".
Lại hỏi: "Sao gọi là không lời?". Ni sư đáp: "Đạo vốn không lời".

Mấy câu trên có thể tạm hiểu là nếu lấy thanh và sắc mà cầu Phật thì là theo "tà đạo", bởi vì "Đạo vốn không lời", người tu hành "xưa nay không đi", phải ngồi tĩnh lặng suy tư.

Như phần trên đã nói, trước khi viên tịch ni sư Diêu Nhân có bài kệ thị tịch (bài kệ dặn dò trước lúc mất) bằng chữ Hán, phiên âm ra như sau:
Sinh lão bệnh tử,
Tự cổ thường nhiên.
Dục cầu xuất ly,
Giải phọc thiêm triền.
Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu Thiền.
Thiền Phật bất cầu,
Đỗ khẩu vô nghiên (ngôn).
Dịch nghĩa:
Sinh, già, bệnh, chết,
Từ xưa thường vậy.
Muốn tìm thoát ly,
Cởi thêm trói buộc.
Mê mới tìm Phật,
Lầm mới cầu Thiền.
Thiền Phật chẳng tìm,
Ngậm miệng không nói.

Đại ý, bài kệ này khẳng định một quy luật tự nhiên: “sinh, lão, bệnh, tử”. Để thấy muốn đi ngược lại quy luật này là một sự sai lầm. Từ đó, đả phá những con đường mòn làm cho người ta mê muội là cầu Phật, cầu Thiền; nhằm thức tỉnh mọi người quay đầu lại với chính mình, sống tự nhiên hòa nhịp cùng quy luật để đạt được sự tự tại trong tâm hồn.
Lối thơ 4 chữ gãy gọn, đanh thép làm cho những phán đoán, những lời cảnh báo, khuyên răn trở nên đầy uy lực, có sức mạnh cảnh tỉnh đối tượng.

Bàn về bài kệ thị tịch của ni sư Diệu Nhân, PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh viết:
...Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn học Việt Nam. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy...Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhàn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm mên tinh thần lạc quan, trí tuệ của văn học thiền thời Lý Trần, mà văn học thiền các giai đoạn sau không còn giữ được...
Hơn một thế kỷ sau, vua Trần Thái Tông sẽ trở lại vấn đề từng đặt ra với sư bà Diệu Nhân. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn...Có điều nếu Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí; thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sư “mê hoặc” của chúng nhân...Ông đặt ra phương pháp tu trì...giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng nở khiến họ hiểu "Phật là không mà Tổ cũng là không". Sự khác nhau giữa Diệu Nhân và Trần Thái Tông đã góp phần làm nên một nét khu biệt giữa thiền học đời Lý và đời Trần...(tr. 82-83)

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Chú thích:
1.Căn cứ đoạn chép về bà trong Đại Việt sử ký toàn thư, thì bà sinh năm 1042 (theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Na và PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh). Có sách chép bà sinh năm 1041 (Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ).
2.Châu Chân Đăng là một vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay (chú thích của PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh, tr. 76).

Sách tham khảo:
-Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Tập I, bản dịch). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983.
-Thiền sư Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
-PGS. TS. Nguyễn Đăng Na, Văn học thế kỷ X-XIV. Nhà xuất bản Khao học Xã hội, Hà Nội, 2004.
-PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh, "Lý Ngọc Kiều - Từ cô công chúa...đến sư bà Diệu Nhân" in trong Gương mặt Thăng Long (GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên). Nhà xuất bản Hà Nội, 2010.
-Đoàn Thị Thu Vân, Thơ thiền Lý Trần. Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh cùng nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác ấn hành năm 1998.